Thứ Ba, 19 tháng 8, 2008

lịch sử cơ Đạo

NHỮNG LỜI TIÊN TRI VỀ ĐẠO CAO-ĐÀI
Ngày giáng trần lập đạo của Thượng Đế đã được tiên tri từ mấy ngàn năm về trước.
1) Trong quyển “Phật Tông Nguyên Lý”, khi Đức Thích Ca sắp viên tịch, đệ tử của Ngài là Ananda rơi lụy hỏi rằng:
- "Khi Tôn Sư nhập Niết Bàn rồi ai dạy bảo các con?"
Đức Phật đáp:
- "Ta chẳng phải vị Phật đầu tiên hay cuối cùng, ngày giờ đến, sẽ có một Đấng khác xuất hiện cứu đời, một Đấng Chí Thánh, một Đấng Đại Giác, cực kỳ cao thượng, một Đấng dẫn Đạo vô song, một Đấng Chúa Tể Thánh Thần và loài người, Đấng ấy sẽ truyền dạy các con một mối Đạo vinh diệu buổi sơ khai, vinh diệu buổi thạnh hành, vinh diệu buổi kết cuộc, Đấng ấy sẽ xướng xuất một đời sống đạo đức hoàn toàn thuần khiết".
Đấng Chúa Tể Thánh Thần và loài người chỉ có thể là Đức THƯỢNG-ĐẾ mà thôi.
2) Lời tiên tri trong quyển “Thanh Tịnh Kinh” của Lão giáo:
"Thanh Tịnh kinh hữu di tích: Công viên quả mãn chỉ thọ đơn thơ. Thiên mạng phương khả truyền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ" nghĩa là: "Kinh Thanh Tịnh có dấu tích để lại rằng: Công đầy quả đủ sẽ được lãnh thọ đơn thơ. Người có mạng Trời khá nên truyền Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ".
3) Lời tiên tri trong quyển “Vạn Pháp Qui Tông”: Quyển “Vạn Pháp Qui Tông” lưu truyền trong nhân gian hơn mấy trăm năm nay có câu "Cao Đài tiên bút thi văn tự" nghĩa là trong Đạo Cao-Đài mai sau sẽ có thơ văn của chư Tiên do thần cơ diệu bút tiếp ra.

4) Lời tiên tri qua cơ bút (*)
Các đàn tiên tri quy tụ những người hầu đàn cơ gồm đủ mọi tầng lớp trong xã hội, do nhiều mục đích khác nhau. Có thể chia ra ba nhóm chính:
- Nhóm sĩ phu ưu thời mẫn thế, mượn đàn cơ để hỏi việc thiên cơ, hầu hết vận mệnh đất nước ra sao. Những đàn này thường lập rất kín đáo.
- Nhóm mặc khách tao nhân, mượn đàn cơ để xướng họa thi phú với thần tiên, di dưỡng tính tình. Những đàn này thường lập trong ít người đồng thanh khí.
- Nhóm bình dân, gồm những người cần xin thuốc chữa bịnh, cầu thọ ... Những đàn này phổ biến hơn cả, rất đa dạng. Qua sự linh ứng nhãn tiền, đông đảo dân chúng đã có đức tin nơi siêu hình. Những đàn này thường chỉ hoạt động trong một thời gian nhất định, tại một địa phương nào đó, rồi ngưng hẳn (bế đàn). Ở Nam Kỳ hồi đầu thế kỷ XX có một số đàn hữu danh thuộc loại này, như đàn Hiệp Minh (ở Cái Khế, tỉnh Cần Thơ), đàn Minh Thiện (ở Thủ Dầu Một), đàn Chợ Gạo (tỉnh Chợ Lớn)...
Trong số các đàn tiên tri sự xuất hiện của đạo Cao Đài, có thể dẫn lại ba trường hợp tiêu biểu như sau:
a. Đàn tại quận Cao Lãnh (1913)
Thứ sáu, ngày 03-01-1913 (26-11 Quý Sửu), tại quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc, một nhóm sĩ phu lập đàn tại nhà ông Lê Quang Hiển (nhạc phụ nhà báo Diệp Văn Kỳ), mục đích hỏi về thiên cơ, quốc sự. Chơn linh nhà Nho yêu nước Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân (1841 - 1875) giáng cơ ban cho bài thơ chữ Nho như sau:
Dung tất Cao Đài nhiệm khuất thân,
Tứ triêm đào lý nhứt môn xuân.
Canh tân bồi ức giang sơn cựu,
Trừ cựu thời thiêm tuế nguyệt tân.
Cửu thập thiều quang sơ bán lục,
Nhất luân minh nguyệt vị tam phân.
Thứa nhàn hạc giá không trung vụ,
Mục đỗ Cao Đài tráng chí thân.
Ngài lại ban cho bài thơ dịch:
Co duỗi Cao Đài khoẻ tấm thân,
Dạo xem đào lý đượm màu xuân.
Giang sơn chẳng khác ngàn năm cũ,
Ngày tháng chờ thay một chữ tân.
Chín chục thiều quang vừa nửa sáu,
Một vừng trăng rạng chửa ba phân.
Thừa nhàn cưỡi hạc không trung ruổi,
Chạm mắt Cao Đài khoẻ tấm thân. [1]
Hai chữ Cao Đài được nhắc tới bốn lần mà không ai hiểu ngụ ý gì. Gia đình ông Lê Quang Hiển sao lại hai bài thơ, cất lên trang thờ làm kỷ niệm. Cuối năm 1926 (Bính Dần), khi các ông Cao Quỳnh Cư, Cao Hoài Sang, Lê Bá Trang, Vương Quan Kỳ ... trong đợt phổ độ Lục Tỉnh đến tại quận Cao Lãnh bấy giờ mọi người mới nhớ lại bài thơ mười ba năm trước.
Lê Quang Hiển (ảnh tài liệu của Thiện Mộc Lan, Sa Đéc)
b. Đàn tại miễu Nổi (1923) và chùa Ngọc Hoàng (1923)
Miễu Nổi không biết có từ bao giờ, nằm trên một cồn nhỏ rộng khoảng một trăm thước vuông, ở giữa sông Bến Cát, là chi nhánh sông Bình Lợi, quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định cũ. Trong miễu thờ Tề thiên Đại thánh, Ngũ long Công chúa.[2]
Trong một đàn lập ở miễu Nổi đêm 17-6 Quý Hợi (thứ Hai 30-7-1923), một vị trong Bát tiên là Tào Quốc Cữu giáng cơ khuyến tu, có đoạn: “Chư nhu có phước có duyên nên mới gặp Đạo kỳ này là kỳ thứ ba. Thiệt chư nhu có đại căn mới gặp trước thiên hạ đó. Hữu duyên đắc ngộ Tam kỳ độ, tiên thánh đều lâm phàm mà độ kẻ nguyên nhân.” [3]
Cùng năm ấy còn có một đàn cơ tiên tri khác, vào đêm 22-7 Quý Hợi (Chủ nhật 02-9-1923):
Huê phát Tam kỳ Đạo dĩ khai,
Quang minh tứ hướng thướng tam tài.
Đại phước kim đơn thân đắc ngộ,
Đế quân giáng hạ, nhữ vô tai. [4]
Bài thơ quán thủ thành Huê Quang Đại đế, là vị giáng đàn. Câu một nói “Tam kỳ Đạo dĩ khai” (Đạo kỳ Ba đã mở rồi) ám chỉ việc ông Ngô Văn Chiêu đã học đạo với đức Cao Đài trước đó hai, ba năm (1920-1921). Câu hai nói “tứ hướng thướng tam tài” (bốn phương đều kéo cờ ba màu) tiên tri từ năm 1926 trở đi khắp nơi sẽ nhìn thấy cờ của đạo Cao Đài gồm ba màu Vàng, Xanh, Đỏ, tượng trưng cho Tam giáo (Phật, Lão, Nho). Câu ba nói tới “kim đơn” nhằm ngụ ý liên hệ tới phần nội giáo tâm truyền (tu thiền hay tịnh luyện) của đạo Cao Đài.
Đàn tiên tri nói trên tiếp nhận tại chùa Ngọc Hoàng. Chùa này nằm trên đường Phạm Đăng Hưng, vùng Đất Hộ (Đa Kao), lúc đầu tên gọi là Ngọc Hoàng điện, tạo tác trong hai năm 1905-1906. Vị giữ chùa đầu tiên là Lưu Minh, ăn chay trường, tu Minh sư. [5]
Chùa Ngọc Hoàng ở Đa Kao (ảnh tài liệu)
5) Lời tiên tri trong kinh điển Minh sư (*)
Minh sư là một tông phái thờ Tam giáo, nhưng trọng về Lão, sử dụng cơ bút, tu đơn (tức thiền đạo Lão). Khởi thuỷ, môn phái này quy tụ các di thần nhà Minh (Trung Quốc), xuất hiện đầu đời Thanh (cuối thế kỷ XVII). Tổ thứ mười hai của Minh sư là ông Trần Thọ Khánh có qua Việt Nam năm Giáp Ngọ (1894), năm sau tạ thế ở Trung Quốc.[6] Đạo Minh sư lúc đầu nuôi chí “phản Thanh phục Minh” nhưng với thời gian đã thay đổi nhiều. Khi được truyền bá ở Việt Nam, Minh sư trở thành một môn phái tu hành thuần túy, rất có uy tín ở Trung Kỳ và Nam Kỳ. Chùa Minh sư được gọi là Phật đường. Rất nhiều Phật đường là căn cứ mật của nghĩa quân chống Pháp.
Trước khi đạo Cao Đài xuất thế, trong tín đồ thông chữ Hán của Minh sư thường truyền tụng hai câu mà quán thủ là Cao Đài:
Cao như bắc khuyết nhân chiêm ngưỡng,
Đài tại nam phương Đạo thống truyền.
Ở miền Tam Quan, tỉnh Bình Định, Trung Kỳ, có phái tu Minh sư của một nhà ái quốc là đạo sĩ Trần Cao Vân (1866-1916). Kinh nhật tụng của phái này có hai câu:
Con cầu Phật tổ Như lai,
Con cầu cho thấu Cao Đài Tiên ông .
Đợi đến khi Cao Đài truyền từ Nam ra Trung, tín đồ Minh sư mới nghiệm được lời tiên tri. Lối tu có cơ bút, thờ Tam giáo của Cao Đài lại phù hợp Minh sư nên các lão sư và đông đảo tín đồ đã mau lẹ nhập môn, trong sự hân hoan là từ đây người nước Nam đã có đạo của dân tộc Việt Nam.
Sự xuất hiện của đạo Cao Đài ở Việt Nam, khởi nguyên từ đất Nam Kỳ, đã diễn ra trong một thời kỳ lâu dài. Riêng về thời kỳ tiềm ẩn, nhằm chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết cho đạo Cao Đài ra đời, có thể ấn định mốc thời gian khởi từ năm Canh Thân (1920) là năm lần đầu tiên vị môn đồ đầu tiên của đức Cao Đài là ông Ngô Văn Chiêu được biết đến hồng danh Cao Đài trong một đàn cơ ở tỉnh Tân An. Khởi từ năm ấy, thời kỳ tiềm ẩn có thể coi như kết thúc vào cuối tháng 8 Bính Dần (tháng 9-1926), vì vào lúc đó, ông Lê Văn Trung đã cùng các đồng môn công bố tuyên ngôn chính thức về sự ra đời của đạo Cao Đài. Tuyên ngôn này thường được gọi đơn giản là Tờ khai Đạo.
....Thượng Đế, ứng hợp với những lời tiên tri, đã giáng trần, bằng huyền cơ diệu bút, sáng lập Đạo Cao-Đài tại Việt Nam vào năm Bính Dần 1926.
___________________________
Chú thích:
(*) Phần 4 và 5 của bài này được trích từ “Lịch sử Đạo Cao-Đài thời kỳ tiềm ẩn 1920-1926”, chương I “Đất Nam Kỳ”, của tác giả Lê Anh Dũng.
[1] Huệ Lương, Đại đạo Tam kỳ Phổ độ (Cao Đài giáo) sơ giải. Sài Gòn: Nxb Thanh hương Tòng thơ, 1963, tr. 27.
[2] Huỳnh Minh, Gia Định xưa và nay. Sài Gòn: 1973, tr. 203.
[3] Nguyễn Trung Hậu, Đại đạo căn nguyên. Sài Gòn: 1957, tr. 9.
[4] Nguyễn Trung Hậu, Đại đạo căn nguyên. 1957, tr. 9.
[5] Vương Hồng Sển, Sài Gòn năm xưa. Sài Gòn: Nxb Khai trí, 1969, tr. 198.
[6] Sơn Nam, Cá tính của miền Nam. Sài Gòn: Nxb Đông phố, 1974, tr. 108.



Lịch sử đạo Cao Đài thời kỳ tiềm ẩn 1920-1926
Thay lời giới thiệu
Ý kiến của Thầy Nhân Tử NGUYỄN VĂN THỌ về quyển Lịch sử đạo Cao Đài: thời kỳ tiềm ẩn 1920-1926 (Huế: Nxb Thuận Hóa, 1996. LC Control Number: 96949067.)

Sách viết rất hay, rất gọn. Tôi đọc hai ba lần rồi. Tuy viết ngắn gọn, nhưng rất đầy đủ. Chương mở đầu rất hay, nêu rõ tôn chỉ Cao Đài (Tam giáo quy nguyên, Ngũ chi phục nhất, và là kết tinh kim cổ, dung hòa Đông Tây). Cao Đài là một tôn giáo tổng hợp (tr. 15), đúng vậy, và ngày nay chúng ta đang cần một siêu tôn giáo, toàn cầu và hiện đại (tr. 21). Sách tóm tắt phong trào tôn giáo đối chiếu rất đầy đủ (tr. 18-20), và những lời trích dẫn rất hay.
Chương I bàn về Nam Kỳ lục tỉnh hay hai mươi mốt tỉnh với bản đồ chính trị và hành chính, với những cơ bút và những tiên tri về Cao Đài xuất thế, và tâm trạng quần chúng sẵn sàng chờ đón một tôn giáo mới, viết thật là cô đọng.
Chương II bàn về Đức Cao Đài hóa độ ông Ngô Minh Chiêu từ năm 1920, và lập ra Cao Đài vô vi. Nơi tr. 71, sách bàn về hai chữ Cao Đài. Tôi nghĩ rằng đạo Cao Đài nội tại hay vô vi chính là cái đạo nội tâm dạy con người tìm ra Chân tướng, Chân bản thể của mình chính là Đức Cao Đài nội tại (Dieu immanent), là Nê hoàn cung, là Thiên nhãn, hay Lương tâm của mỗi con người chúng ta. Cho nên tôi hiểu "Đài thượng vô vi tại đỉnh đầu" (tr. 71) theo đúng nghĩa đen.
Khi tôi hiểu Cao Đài là Chân tâm mình, là Nê hoàn cung, là Lương tâm mình, là Thiên nhãn mình, tôi luôn nhìn thấy Cao Đài nơi mình, và mới thấy rằng đạo vô vi trong Cao Đài ít kẻ tìm ra. Chúng ta thật không hiểu nổi câu "Thầy [Thượng đế Cao Đài] là các con [chúng sinh] và các con là Thầy". Khi nào còn phân biệt nhĩ ngã, phân biệt Đức Cao Đài và mình, thì bấy lâu chưa nhập Đạo. Đức Cao Đài dạy rất đúng: "Cao Đài ứng hóa theo lòng chúng sanh, Đố ai biết được cái danh Cao Đài" (tr. 65).
Chương III, sách bàn về nhóm Cao-Phạm rất khéo. Thân thế các ông Cao Quỳnh Cư, Cao Hoài sang, Phạm Công Tắc, Nguyễn Trung Hậu, Lê Văn Trung, Vương Quan Kỳ, Đoàn Văn Bản... đều được trình bày cặn kẽ.
Chương IV bàn về nhóm Phổ độ hình thành, với các môn đệ mới như Nguyễn Ngọc Tương, Lê Văn Lịch, Trần Đạo Quang, sự phổ biến của Đạo vào quần chúng, và Tờ khai Đạo ngày 07-10-1926, rất là đầy đủ ý nghĩa.
Khéo nhất là sách đã trình bày về những đàn cơ đầu tiên như là cuộc gặp gỡ giữa các tao nhân mặc khách, giữa tiên và tục mà không rõ mục đích sẽ đi về đâu (tr. 82-101). Thật không ngờ là chỉ sau 136 ngày (tr. 102) mọi sự đã được quy hướng về Đại đạo. Thời gian dành huấn luyện cho Đức Ngô Minh Chiêu (1920-1926), thời gian đào tạo nhóm Phổ độ (1925-1926), chỉ trong vòng mấy năm mà tạo dựng nên được một Đại đạo, thật là phép lạ phi thường. Niên biểu cuối sách thật là bổ ích.
Tôi đã đọc nhiều tài liệu khác về Cao Đài nhưng không tài liệu nào hấp dẫn bằng sách của Anh Dũng. Mong rằng các sách sau tiếp tục hay như vậy.
Nhân Tử NGUYỄN VĂN THỌ
(thư Westminster, 06-8-1996)



LỊCH SỬ ĐẠO CAO ĐÀI THỜI KỲ TIỀM ẨN 1920-1926
LÊ ANH DŨNG
CHƯƠNG MỞ ĐẦU
Vào những năm 20 của thế kỷ XX, một nền đạo mới đã xuất hiện ở Việt Nam với danh xưng Đại đạo Tam kỳ Phổ độ, gọi tắt là đạo Cao Đài, và nêu tôn chỉ Tam giáo quy nguyên, Ngũ chi phục nhất.[1] Các nhà nghiên cứu thừa nhận rằng ngoài phần bản sắc riêng biệt, đặc thù của Cao Đài, nền đạo mới này rõ ràng có chủ trương tổng hợp các nền đạo lý theo phương châm Kết tinh kim cổ, dung hòa Đông Tây. Đó là lý do các học giả phương Tây thường có xu hướng coi Cao Đài như một tôn giáo tổng hợp.
Thuật ngữ Tam kỳ ngụ ý chia lịch sử triết giáo của nhân loại ra ba thời kỳ lớn (tam nguơn, tam nguyên):
- Kỳ Nhất kéo dài từ thời thượng cổ (tiền sử hay khuyết sử) cho tới khoảng nửa đầu thế kỷ VII trước công nguyên (khoảng năm 650 tcn).
- Kỳ Nhì diễn ra trong khoảng hai mươi lăm thế kỷ, từ khoảng nửa sau thế kỷ VII tcn cho tới khoảng nửa đầu thế kỷ XIX (khoảng 650 tcn-1850).
- Kỳ Ba diễn ra từ khoảng nửa sau thế kỷ XIX trở đi.
KỲ NHẤT có một số đặc trưng triết giáo như sau:
Tại Trung Quốc, từ 8 quẻ đơn phát triển thành 64 quẻ kép, mỗi quẻ 6 hào, tổng cộng 384 hào. Thế kỷ XII tcn, Chu Văn vương phát huy thêm Thoán từ giải thích 64 quẻ. Chu công (con Chu Văn vương) phát huy thêm Hào từ giải thích 384 hào. Như thế, kinh Dịch đã hình thành được nền tảng ban đầu.
Tại Ấn Độ, đạo Bà-la-môn hay Ấn giáo hình thành. Tư tưởng Ấn Độ trong kỳ Nhất có hai thời đại quan trọng:
- Thời đại các kinh Veda (khoảng 1500 tcn-900 tcn).
- Thời đại Anh hùng ca hay Sử thi (900tcn-500 tcn); qua đó, các bộ kinh Upanishad được kết tập (khoảng 800 tcn-600 tcn).
Bên cạnh đó còn có một hệ tư tưởng cổ đại truyền được hai mươi ba đời tổ sư, đến đời tổ thứ hai mươi bốn, hệ tư tưởng này được gọi là Kỳ-na giáo (Jainism).
Tại Palestine, hình thành Do Thái giáo. Căn cứ từ lúc Thánh Moses được truyền thụ Mười điều răn trên núi Sinai và tôn vinh đức Chúa Trời Yahweh (hay Jahweh) cho dân Hebrews thì Do Thái giáo đã có từ năm 1300 tcn.
KỲ NHÌ có một số đặc trưng triết giáo như sau:
Tại Trung Quốc, vào thế kỷ VI tcn đã hình thành Nho giáo, Lão giáo.
Tại Ấn Độ, đạo Bà-la-môn tiếp tục hoạt động. Thế kỷ VI tcn có thêm Thích-ca giáo, đồng thời Varhamana (hiệu là Mahavira) chấn hưng Kỳ-na giáo, là Tổ thứ hai mươi bốn của đạo này. Thế kỷ XV, Nanak thành lập Xích giáo (Sikhism).
Tại Palestine, Do Thái giáo vẫn tiếp tục. Chúa Jesus Christ ra đời, từ đó hình thành Ki-tô giáo.
Tại Ả Rập, thế kỷ VII, với Muhammad, Hồi giáo xuất hiện.
Tại Ba Tư, Zoroaster (hay Zarathustra) sáng lập Bái hỏa giáo, còn gọi Ba Tư giáo, khoảng thế kỷ VII tcn hay VI tcn.
Tại Hy Lạp, từ cuối thế kỷ VII trở đi, các triết học của Thalès, Pythagore, Anaximandre... đã phát triển mạnh.[2]
KỲ BA có một số đặc trưng triết giáo như sau:
Trong hai kỳ trước, các nền tư tưởng triết giáo tiêu biểu nói trên còn bị giới hạn trong điều kiện không gian địa lý ngăn cách. Sang kỳ Ba, thế giới ngày một gần lại, con người đã chinh phục được khoảng cách thiên nhiên. Phương tiện ấn loát và thông tin ngày càng phát triển cùng với phương tiện giao thông đã góp phần đưa các nền tư tưởng gần lại, giao lưu với nhau. Kỳ Ba vì vậy có một đặc sắc riêng là xu thế dung hoà và tổng hợp tư tưởng Đông Tây kim cổ.
Năm 1863, tại Iran, ông Baha Ullah tức là Mirza Huseyn Ali (1817-1892) sáng lập đạo Baha’i, chủ trương các tôn giáo đều có chỗ đại đồng.
Năm 1875, tại Hoa Kỳ, bà Helena Petrovna Hahn Blavatsky (gốc Nga, 1831-1891) lập trụ sở trung ương của hội Thông thiên học (the Theosophical Society) ở thành phố New York. Trụ sở này dời về Ấn Độ, đặt tại thành phố Madras (1879). Nêu tiêu ngữ Không tôn giáo nào vượt qua chân lý, Thông thiên học đề cao chân lý đại đồng, hướng con người thoát ra vỏ ốc tôn giáo để tiến lên Đại đạo (vượt lên khỏi mọi hình tướng tôn giáo).
Các triết gia, học giả đã làm nổi lên phong trào đối chiếu và tổng hợp tư tưởng triết giáo nhằm nỗ lực định hướng con người gần lại nhau trong tư tưởng đại đồng, vạn giáo nhất lý. Cuối thế kỷ XIX đã có hai sự kiện đáng kể:
- Năm 1893, Đại hội tôn giáo thế giới (lần I) được triệu tập tại thành phố Chicago (bang Illinois, Hoa Kỳ).
- Năm 1900, Hội nghị quốc tế về lịch sử tôn giáo (lần I) được triệu tập tại thủ đô Paris (Pháp).
Hai sự kiện này đã mở đường cho những hoạt động nhằm cổ vũ cho một lý tưởng hòa đồng tôn giáo và dung hợp tư tưởng vào các thập niên kế tiếp. Chẳng hạn:
- Năm 1939, Radhakrishnan dạy Tôn giáo đối chiếu tại Viện đại học Oxford (Anh).
- Năm 1959, Viện Văn hóa Pháp và Viện đại học Paris mở khoa Tôn giáo đối chiếu.
- Năm 1960, Hội nghị quốc tế về lịch sử tôn giáo (lần X) được triệu tập tại thành phố Marburg (Đức).
- Năm 1961, Viện đại học Chicago và Viện đại học Yale (Hoa Kỳ) xuất bản các tập san định kỳ làm diễn đàn cho phong trào đối chiếu và tổng hợp triết giáo.
- Năm 1963, Viện đại học Sorbonne (Pháp) mở khoa Triết lý đối chiếu...
Rất nhiều sách vở cũng đã ấn hành vì một mục đích tương tự. Qua đó, như những nhận định tiêu biểu của Archie J. Bahm (Giáo sư triết và tôn giáo đối chiếu Viện đại học New Mexico, tác giả quyển The World’s Living Religions), cho thấy rằng sự chuyển biến quan trọng nhất của tư tưởng nhân loại ở kỳ Ba này là đã bắt đầu nhận thức được rằng:
- Ngày nay thế giới càng lúc càng nối gần lại các biên cương, sự giao lưu ngày càng phổ biến, thuận tiện và tự nhiên. Con người của kỳ Ba không còn như ngày xưa vốn chỉ sống biệt lập với một nền văn minh bản địa. Như P.T. Raju, nguyên Trưởng khoa Triết Viện đại học Rajasthan đã phát biểu, “ngày nay chúng ta sống trong một thế giới, chứ không phải chỉ trong một quốc gia hay một nền văn minh, và chúng ta cần hiểu chính ta như là các công dân của thế giới”.[3] Cũng P.T. Raju nhận định rằng “mặc dù có dị biệt, nhưng các tôn giáo đều có cái chung, đó là con người”.[4]
- Theo A.J. Bahm, “tiềm tàng trong bản chất của tôn giáo là mỗi tôn giáo đều tự nhiên tìm cách trở nên đại đồng và (...) các tôn giáo trên thế giới sẽ có xu thế hướng về một nền tôn giáo toàn cầu”. [5]
- A.J. Bahm phát biểu: “Tuy nhiên nhân loại đang thiếu một nền tôn giáo toàn cầu theo ý nghĩa rằng thực chất nền tôn giáo đó là nền đạo duy nhất và theo ý nghĩa rằng tôn giáo đó vượt lên hẳn các tôn giáo khác chỉ vì bản thân tôn giáo đó chứa đựng tinh hoa của tất cả các tôn giáo khác.” [6]
“Chúng ta chưa sẵn sàng để phát triển một ‘tôn giáo toàn cầu’ phối hợp tinh hoa của tất cả những tôn giáo của nhân loại. Nhưng chắc chắn đã đến lúc chúng ta phải hiểu biết nhiều hơn về vấn đề này như là một vấn đề.” [7]
- Ngoài vấn đề tôn giáo chung toàn cầu cho toàn nhân loại, còn có vấn đề hiện đại hóa tôn giáo. A.J. Bahm viết rằng “Các hình tướng, giáo lý và thiết chế đặc biệt mà qua đó các nhu cầu, và kinh nghiệm tu hành của một số người đã được phô diễn thì chúng có thể hóa ra lỗi thời, mà sự tiếp tục duy trì chúng thường trở nên có hại cho sự tu hành lành mạnh.” [8] Theo Bahm, sống trong thời đại toàn cầu con người cần có tôn giáo khác hơn thời trước, phù hợp với đà văn minh khoa học hiện đại của thế giới.[9]
Sự chuyển biến nhận thức về tôn giáo trong hai ý hướng chủ yếu (a) toàn cầu và hiện đại, tựu trung chính là sự nhận thức về nhu cầu mới của nhân loại đang khao khát một nền đạo đại đồng vượt mọi biên cương, chủng tộc. Suốt thế kỷ XX, ở nhiều nước đã có nhiều hoạt động phục vụ cho lý tưởng này. Tất cả nhìn riêng, là một khâu, một mắt xích trong toàn chuỗi xích của phong trào vận động và tìm kiếm cho nhân loại một Đại đạo.
Trong bối cảnh chung toàn thế giới như thế, ở Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ XX (1920-1926), đức Thượng đế tá danh Cao Đài đã vận chuyển để quy tụ những con người sứ mạng xây đắp nền móng đầu tiên của Đại đạo Tam kỳ Phổ độ.
Ở trên đã nói về thuật ngữ Tam kỳ. Thuật ngữ Đại đạo bao hàm cái nghĩa vượt lên tôn giáo cố hữu của nhân loại. Nói cách khác, Đại đạo là siêu tôn giáo (sur-religion). Thuật ngữ Phổ độ ngụ ý rằng đối tượng cứu rỗi là toàn thể chúng sanh (universalism).
Mặc dù Đại đạo là siêu tôn giáo, nhưng khởi đầu xây dưng cơ sở hạ tầng không thể không mượn hình thức tôn giáo. Cũng vậy, cho dù Phổ độ vốn vượt biên cương và chủng tộc, nhưng khởi sự xây đắp nền móng đầu tiên không thể mượn một đất nước, một dân tộc để làm cái nôi cho mọi xuất phát trong tương lai. Archimedes (người Hy Lạp, 287?-212 tcn) nói: “Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ bẩy cả trái đất này đi.” Sự có mặt của đạo Cao Đài tại Việt Nam là cái “điểm tựa” của Đại đạo Tam kỳ Phổ độ.
Đại đạo Tam kỳ Phổ độ vì vậy đã khởi đầu với hình thức tôn giáo Cao Đài tại Việt Nam, vốn là đất nước nằm ở ngã tư giao lưu tư tưởng của Đông Tây kim cổ, và cũng đã có quá trình thấm nhuần tinh thần Tam giáo đồng nguyên, vạn giáo nhất lý trong khoảng mười chín thế kỷ.[10] Việt Nam còn là nơi mà các đặc trưng của văn hóa Ấn, Hoa và phương Tây đều hiện diện. A.J. Bahm đánh giá rằng: “Ba nền văn minh lớn nhất của nhân loại là Ấn Độ, Trung Hoa, và châu Âu hay phương Tây.” [11] Do đó, Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để tiếp thu chân lý đại đồng từ đức Thượng đế tá danh Cao Đài. Có thể nhận định rằng tôn giáo Cao Đài và cái nôi Việt Nam chính là phương tiện để qua đó đạt tới cứu cánh của Đại đạo Tam kỳ Phổ độ. Nói cách khác, trong bước đầu của Đại đạo Tam kỳ Phổ độ tại Việt Nam, nếu đã có màu sắc tôn giáo thì đó cũng là sự tự nhiên và hợp lý khi xét tới mối quan hệ biện chứng giữa phương tiện và cứu cánh.
Lịch sử Cao Đài trải qua một thời kỳ tiềm ẩn lâu dài để chuẩn bị nhân sự và mọi điều kiện cần yếu khác cho cơ cấu một thiết chế tín ngưỡng. Định mốc cho thời kỳ tiềm ẩn có thể chọn khởi điểm là năm 1920, vì chính lúc này lần đầu tiên ông Ngô Văn Chiêu nghe được hồng danh Cao Đài tiết lộ trong một đàn cơ ở tỉnh Tân An.
Tháng 9-1926 có thể coi là điểm kết thúc của thời kỳ tiềm ẩn vì đúng vào tháng này, đã có Tuyên ngôn khai Đạo chánh thức.
Phối hợp hai phương pháp kỷ truyện và biên niên, phần thứ nhất của bộ Lịch sử Cao Đài với tiêu đề: Thời kỳ tiềm ẩn (1920-1926) được trình bày qua ba chương II, III, và IV, khởi từ việc đức Cao Đài hóa độ ông Ngô Văn Chiêu cho tới khi nhóm Phổ độ hình thành với vị đứng đầu nhóm là ông Lê Văn Trung. Chương I nhằm xét một bối cảnh tổng quát của Nam Kỳ, địa bàn xuất phát của đạo Cao Đài.
Các vấn đề lịch sử xen lẫn với nhau, cái này liên hệ cái khác, mỗi nhà viết sử đều có phương pháp riêng để sắp xếp sử liệu, dữ kiện. Sự trình bày các chương sau đây là tương đối, cốt sao thuận tiện cho người viết. Không có chương kết, mặc dù có Chương mở đầu. Thay vào đó là một niên biểu chi tiết tóm tắt những sự việc nổi bật của lịch sử đạo Cao Đài trong thời kỳ tiềm ẩn.
HẾT CHƯƠNG MỞ ĐẦU
CHÚ THÍCH
Ký hiệu [Bahm 1964: 359] nghĩa là trích ở trang 359 của Archie J. Bahm, The world’s living religions. New York: Dell, 1964.
[1] Tam giáo quy nguyên: Ba đạo Nho, Thích, Lão trở về nguồn cội của mình. Ngũ chi phục nhất: Năm nhánh Nhân đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo, Phật đạo trở lại một. Nguyên và nhất tức là Đạo.
[2] Quan niệm về trục lịch sử của Karl Jaspers (1883-1969) phần nào khá trùng hợp với quan niệm Nhị kỳ Phổ độ của Cao Đài. Xem “axe de l'histoire” trong Introduction à la philosophie, Jeanne Hersch dịch, Paris: Plon, 1961, từ p. 136; hoặc “thời trục” trong Triết học nhập môn, Lê Tôn Nghiêm dịch, Sài Gòn: Trung tâm Học liệu xb, 1969, từ tr. 109.
[3] “... we now live in a word, not just in a civilization, and we need to understand ourselves as world citizens.” [Bahm 1964: 358-9].
[4] “... despite all their differences, religions have something in common, namely, man.” [Bahm 1964: 359].
[5] “... inherent in the nature of religion, that each religion naturally seeks to become universal and that (...) world religions will tend toward one world religion.” [Bahm 1964: 354].
[6] “Yet mankind lacks a world religion in the sense that it is in fact the only one or only true one and in the sense that it is superior to others because it embodies within itself the virtues of all other religions..” [Bahm 1964: 353].
[7] “We are not yet ready to develop a ‘world religion’ incorporating the virtues of all of man’s religions. But surely it is time for us to become more fully aware of the problem as a problem.” [Bahm 1964: 33].
[8] “The particular forms, doctrines, and institutions through which the religious needs and experiences of some people have been expressed may become obsolete, and their continuance often becomes detrimental to healthy religion.” [Bahm 1964: 14].
[9] “But just as automobile and jet plane have replaced ox and horse, skycrapers have supplanted caves, and wash-and-wear fabrics have superseded animal skins, so we should expect the modes of expression serving our religious needs in cosmopolitan society to be different from those which inspired the fearful shepherd, Moses, on a fiery mountainside or the wondering camel driver, Mohammed, in a Meccan cave.” [Bahm 1964: 14].
[10] Xin đọc Lê Anh Dũng: Con đường Tam giáo Việt Nam từ khởi nguyên tới thế kỷ XIX. Xuất bản 1994.
[11] “The three greatest civilizations of mankind are the Hindu, the Chinese, and the European or Western.” [Bahm 1964: 32].
LÊ ANH DŨNG

LỊCH SỬ ĐẠO CAO ĐÀI THỜI KỲ TIỀM ẨN 1920-1926
LÊ ANH DŨNG
CHƯƠNG I
ĐẤT NAM KỲ TRƯỚC KHI CAO ĐÀI XUẤT THẾ
I. NGUỒN GỐC TÊN NAM KỲ LỤC TỈNH
Nghiên cứu lịch sử một tín ngưỡng không thể tách rời lịch sử của đất nước đã là cái nôi của nền tín ngưỡng đó. Lịch sử khai đạo Cao Đài khởi nguyên trong thập niên 20 của thế kỷ XX, tại miền Nam, lúc ấy còn được gọi là Nam Kỳ, Nam Kỳ Lục Tỉnh, Lục Tỉnh, và Lục Châu. Bối cảnh lịch sử miền Nam hay là một cái nhìn tổng quát về tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của miền Nam ở đầu thế kỷ XX rất cần thiết cho việc tìm hiểu lịch sử Cao Đài, cũng như sẽ “hiểu thêm tại sao miền Nam có vài sắc thái tôn giáo mà ngoài Bắc ngoài Trung không có...” [1]
Theo Ðại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, vào năm Mậu Dần (1698) chúa Nguyễn Phúc Chu cho lập phủ Gia Định. Năm Nhâm Tuất (1802) vua Gia Long đổi phủ Gia Định thành trấn Gia Định; đến năm Mậu Thìn (1808) đổi tên trấn Gia Định ra thành Gia Định gồm năm trấn là Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Thanh, Hà Tiên.
Năm Minh Mạng thứ 13 (Nhâm Thìn, 1832) vua Minh Mạng đổi tên thành Gia Định ra thành Phiên An, năm trấn chia thành sáu tỉnh Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Như vậy tên Lục Tỉnh đã có từ năm 1832. Hai năm sau (Giáp Ngọ, 1834), Lục Tỉnh được gọi chung là Nam Kỳ. Năm 1835, tỉnh Phiên An đổi tên là tỉnh Gia Định. [2]
Sau khi chiếm xong ba tỉnh miền Đông gồm Gia Định, Định Tường, Biên Hòa (1862) và ba tỉnh miền Tây gồm Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên (1867), thực dân Pháp xóa bỏ cách phân chia địa giới hành chánh cũ của triều Nguyễn.
Lúc đầu Pháp gọi département thay cho phủ, gọi arrondissement thay cho huyện.[3] Khoảng năm 1868, Nam Kỳ Lục Tỉnh có hơn hai mươi arrondissement (gọi là hạt hay địa hạt, do tham biện cai trị, dinh hành chánh gọi là tòa tham biện, chịu dưới quyền thống đốc đóng ở Sài Gòn, thư ký địa hạt cũng gọi là bang biện tức là secrétaire d’arrondissement).
Nghị định ngày 07-6-1871 thu hẹp lại còn mười tám hạt; rồi tăng lên mười chín (1876); tăng lên hai mươi (1880); bỏ hạt hai mươi (1881); rồi lại lập thêm hạt Bạc Liêu (1882) và hạt Cap Saint Jacques (1895) thành hai mươi mốt arrondissement.
Nghị định ngày 16-01-1899 đổi tên hạt thành tỉnh (province), tham biện đổi thành chủ tỉnh (chef de province), tòa tham biện gọi là tòa bố.
II. LỤC TỈNH CHIA RA HAI MƯƠI MỐT TỈNH
Vài chục năm sau mới chia tỉnh ra quận (délégation) dưới quyền chủ quận; quận chia ra tổng (canton), đứng đầu là cai tổng (chef de canton). Tổng chia thành xã. [4]
Do có thay đổi tên theo Nghị định 1899, dân Nam Kỳ thời trước còn gọi viên chức đầu tỉnh là quan tham biện chủ tỉnh; người thông ngôn cho chủ tỉnh được gọi là thông ngôn đứng bàn ông chánh.[5] Như vậy, do Nghị định đó, từ năm Kỷ Hợi (1899), Lục Tỉnh của Nam Kỳ chia thành hai mươi mốt tỉnh như sau:
- Gia Định chia thành năm tỉnh: Gia Định, Chợ Lớn, Tân An, Tây Ninh, Gò Công.
- Biên Hoà chia thành bốn tỉnh: Biên Hoà, Bà Rịa, Thủ Dầu Một, Cap Saint Jacques (tức Vũng Tàu).
- Định Tường đổi thành Mỹ Tho.
- Vĩnh Long chia thành ba tỉnh: Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh.
- An Giang chia thành năm tỉnh: Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc, Sóc Trăng, Cần Thơ.
- Hà Tiên chia thành ba tỉnh: Hà Tiên, Rạch Giá, Bạc Liêu.
Chia lại đất Nam Kỳ thành hai mươi mốt tỉnh,[6] có lẽ thực dân Pháp muốn xóa nhòa hai chữ Lục Tỉnh trong lòng người Việt, cũng là cách cắt đứt lòng lưu luyến với truyền thống, một thủ đoạn tâm lý bên cạnh các cuộc đàn áp những phong trào yêu nước kháng chiến. Nhưng dân Nam Kỳ vẫn hoài vọng Lục Tỉnh. Nên mãi đến năm Mậu Thân (1908) trên tờ báo Lục Tỉnh tân văn do ông Gilbert Trần Chánh Chiếu làm chủ bút, vẫn xuất hiện thường xuyên tên Lục Tỉnh, Lục Châu. Mùa Thu năm Bính Dần (1926), khi khởi đầu công cuộc phổ độ ở miền Nam, các vị tiền bối khai đạo Cao Đài đã gọi đó là cuộc phổ độ Lục Tỉnh. Mãi đến thập niên 50 và 60, ở miền Nam cũng còn nói, nhắc đến hai chữ xa xưa này.
Pháp còn giữ lại hai chữ Nam Kỳ, gọi là Cochinchine, phân biệt với Bắc Kỳ là Tonkin, Trung Kỳ là Annam. Người Anh, Mỹ cũng gọi Nam Kỳ là Cochinchina. Giới học giả trong và ngoài nước từng đưa ra nhiều cách lý giải khác nhau về xuất xứ tên gọi Cochinchine, nhưng vẫn chưa ngã ngũ.[7]
Bản đồ hành chánh Nam Kỳ Lục Tỉnh (1836)
Bản đồ hành chánh Nam Kỳ thuộc Pháp
III. VÀI THUẬT NGỮ HÀNH CHÁNH Ở NAM KỲ THỜI PHÁP CHIẾM
1. Thống đốc và thanh tra
Đúng đầu bộ máy hành chánh Nam Kỳ thời Pháp chiếm là Thống đốc Nam Kỳ (Gouverneur de la Cochinchine). Viên chức này do Toàn quyền Đông Pháp, tức Đông Dương thuộc Pháp, giới thiệu và được Tổng trưởng Thuộc địa bổ nhiệm.
Toàn quyền còn cử thêm một viên chức lưu động, hàng năm thanh tra các tỉnh một lần và báo cáo cho Thống đốc. Đó là Thanh tra Chánh trị và Hành chánh Sự vụ (Inspecteur des affaires politiques et administratives).
Các thanh tra này dĩ nhiên chỉ phục vụ cho quyền lợi của thực dân Pháp, cho nên mọi phúc trình của họ về tình hình Nam Kỳ đều đi ngược lại với lợi ích của dân Việt Nam. Lấy thí dụ, Thanh tra Lalaurette trong phúc trình ngày 01-01-1932, dài hai mươi bốn trang đánh máy khổ 21x33cm, khi trình bày về “Le Caodaïsme” đã dùng nhiều lời lẽ thiếu tử tế, đứng đắn. Người nghiên cứu đạo Cao Đài cần hiểu rõ khía cạnh này để hiểu rõ vì sao năm 1970, khi cho khởi đăng chuyên khảo “An Introduction to Caodaism” trên tạp chí The Bulletin of the School of Oriental and African Studies (BSOAS), của Viện đại học London, Giáo sư Ralph Bernard Smith cảnh giác mọi người hãy cẩn thận khi đọc những gì liên quan đến đạo Cao Đài được viết ra do những nhà chính trị thực dân, và Giáo sư Smith gọi cái óc thiếu vô tư, thiếu trung thực của họ là “the cynicism of political observers” [BSOAS, Vol. XXXIII, Part 2, London: 1970, p. 335.]
2. Soái phủ
Trụ sở của Thống đốc đặt tại Sài Gòn (về sau gọi là Dinh Gia Long). Người miền Nam quen gọi là Soái phủ Nam Kỳ (Gouvernement des Amiraux), vì cho tới năm 1878 nó còn là dinh của một quan võ Pháp, hàm Lieutenant-Gouverneur, tức Phó soái. Kể từ năm 1879 mới thay quan võ bằng quan văn, và Thống đốc Nam Kỳ (dân sự) đầu tiên là Le Myre de Vilers. Mãi đến năm 1926, khi gọi Quyền Thống đốc Le Fol, người Nam Kỳ vẫn còn quen miệng kêu lẫn lộn là Thống soái, Phó soái, dù ông không phải là sĩ quan.
Soái phủ Nam Kỳ (ảnh tài liệu)
3. Chủ tỉnh, chủ quận, tri phủ, tri huyện
Tỉnh ở Nam Kỳ chia thành nhiều quận, đứng đầu là chủ quận. Trong khi đó, ở Bắc Kỳ, tỉnh chia thành nhiều phủ, đứng đầu là tri phủ; phủ chia thành nhiều huyện, đứng đầu là tri huyện.
Ở Nam Kỳ, quận chia thành nhiều tổng, đứng đầu là cai tổng (chef de canton). Tổng chia thành nhiều làng.
Chủ tỉnh là người Pháp. Do Nghị định ngày 15-02-1898, chủ quận được tuyển trong số viên chức hành chánh người Việt nào đã có ngạch huyện, phủ, đốc phủ sứ. Cho nên tri huyện, tri phủ ở Nam Kỳ chỉ là ngạch trật về hành chánh, không phải là quan chức như ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ , mặc dù người miền Nam quen gọi chủ quận là quan phủ, quan huyện. Những viên chức người Việt này xuất thân là thơ ký, có thể có một ít vốn chữ Nho, học ở trường làng trước khi vào học chương trình Pháp ở Collège de Mỹ Tho (nay là trường Nguyễn Đình Chiểu) và trường Bổn quốc ở Sài Gòn, tức là Lycée Chasseloup Laubat, sau đổi tên thành Jean Jacques Rousseau (nay là trường Lê Quý Đôn). Phần lớn các bậc tiền bối có công khai đạo Cao Đài đã xuất thân từ hai trường học này, Hai trường trung học lớn khác là Pétrus Ký ở Sài Gòn và Collège de Cần Thơ.
IV. VÀI ĐẶC ĐIỂM ĐÁNG CHÚ Ý Ở NAM KỲ
1. Số dân
Đầu thế kỷ XX, Sài Gòn và Chợ Lớn là hai khu vực riêng biệt . Riêng Sài Gòn rộng chừng 780 mẫu tây.
Số dân toàn Nam Kỳ (từ 15 tuổi trở lên) năm 1905 là 2.876.417; năm 1909 là 2.975.838. Số dân tăng lên vì có nhiều người từ Bắc, Trung Kỳ, Quảng Đông, Phước Kiến vào miền Nam làm ăn.[8] Cho đến năm 1920, số dân Nam Kỳ ước độ 3.600.000, và riêng số người Việt ở vùng Sài Gòn (không kể Chợ Lớn) vào năm 1921 là 308.512 người.[9]
2. Bộ mặt chung của Sài Gòn
Sài Gòn đến thế kỷ XX chưa liệt vào “Hòn ngọc Viễn Đông”. Trong Bến Nghé xưa, Sơn Nam miêu tả: “Ánh đèn điện chỉ rọi sáng khu trung tâm thành phố. Phía ngoại ô từ rạch Thị Nghè đi Bà Chiểu, nhà cửa thưa thớt, ban đêm tối om.” Nhiều tin đồn ma quỷ hiện ở Cầu Bông, và khu Lăng ông Bà Chiểu. Tại Thủ Đức, Hóc Môn còn có cọp xuất hiện (tr.145 - 6).
Chợ Bến Thành năm 1911 chưa có, “ba năm sau (1914) thì cất xong nhưng trước mặt còn ao vũng sình lầy. Giữa Sài Gòn và Chợ Lớn phía đất thấp, chưa có dự kiến nên nối liền, còn ruộng lúa với người cày, ao nuôi vịt, ngọn rạch cạn, đợi đến năm 1916 mới bắt đầu đắp đường, trải đá ong ...” (Đó là đường Galliéni, nay là Trần Hưng Đạo.)
“Xe lửa nối liền ra ngoại ô còn dùng hơi nước đến 1913 mới cải tiến chạy bằng sức điện.” (tr.146)
Trên đường Paul Blanchy (nay là Hai Bà Trưng), phía sau Nhà hát lớn đã có nhà đèn, lập từ cuối thế kỷ XIX. Về sau nó được “dời về Chợ Quán với quy mô to hơn, chạy hơi nước. Năm 1909, Sài Gòn và Chợ Lớn thiết bị tạm xong hệ thống đèn điện ở ngoài đường.” (tr.146)
“Về mặt hành chánh, đô thành Sài Gòn lần lần nới rộng, bao gồm vùng bên này Cầu Bông, Tân Định, rồi Khánh Hội, Chánh Hưng. Diện tích thành phố Sài Gòn (không có Chợ Lớn) vào năm 1907 là 1.674 héc-ta. Tuy thêm nhà cửa, dinh thự nhưng khu vực náo nhiệt vẫn chưa phát triển ra khỏi... [đường Lê Văn Duyệt; thời Pháp là đường Verdun], đường Nguyễn Thái Học. Giữa Sài Gòn và ở phần đất cao còn nhiều chòm tre, cây da, mồ mả to xen vào những đám rẫy trồng rau cải và bông hoa, những xóm nhà ổ chuột; bầy bò dê đi lang thang ăn cỏ. Phương tiện xê dịch thông dụng là xe kiếng khi đổ mưa; người đánh xe mặc áo tơi bằng lá giống như áo tơi của nông dân vậy thôi. Chở chuyên hàng hóa thì dùng xe bò.” (tr.147)
3. Tín ngưỡng
Theo Sơn Nam, “Việc thờ phượng Quan Công, thờ Phật, việc tin tưởng vào chư tiên chư thánh đã có sẵn từ lâu ở miền Nam...” [10] Nhận xét về “giới bình dân đông đảo ở nông thôn và lớp nghèo thành thị”, Sơn Nam thấy rằng họ đã “xây dựng một nếp sống tinh thần khá ấm áp, bình đẳng, lấy tình nghĩa huynh đệ làm trọng, sống chết có nhau, giữ trung cang nghĩa khí lúc khó khăn, hiếu động. Đúng là nếp sống tinh thần kết tinh đạo Phật, Lão, Khổng.” [11]
Những nhận xét này cho thấy trước khi đạo Cao Đài xuất thế, ở Nam Kỳ đã có sẵn mảnh đất tốt cho một tín ngưỡng tổng hợp Tam giáo phát triển. Điều này giải thích vì sao khi đạo Cao Đài phổ độ Lục Tỉnh, số tín đồ quy tụ rất mau lẹ và đông đảo, khiến thực dân Pháp hết sức lo ngại.
4. Cách ăn mặc
“Trừ một số ít được theo Tây học, làm công chức (từ thơ ký thi tuyển lên huyện, phủ) ưa mặc Âu phục còn đại đa số (luôn cả người theo Tây học) thích xuất hiên, ăn tiệc, chụp ảnh với cái khăn đóng, áo dài đen, quần trắng, đi giày hàm ếch, tay chống ba-ton, để râu trái ấu vuốt sáp; giới quan quyền mặc áo dài lụa xanh thêu chữ thọ, mang giày da buộc dây.” [12] Ai theo thời mới thì “mặc Âu phục, đội nón Tây, thắt nơ, râu vuốt sáp, tóc ngắn.” [13] Bên cạnh đó, “công chức hạng nghèo thuở ấy mặc áo dài đen.” Còn những người thuộc “giới công nhân và lao động chịu hớt tóc ngắn, nhưng còn giữ búi tóc, bịt khăn đầu rìu hoặc ở trần, đi chân đất không phải ít.” [14]
5. Tâm lý quần chúng
Nhận xét tâm lý quần chúng ở Nam Kỳ dưới chế độ khắc nghiệt của thực dân Pháp, tuần báo Lục Tỉnh tân văn số 16, ngày 01-10-1908 viết: “Tánh người An Nam mình hay sợ sệt lắm...” Do đó, khi chủ xướng những công cuộc lớn lao, muốn vận động, thu hút quần chúng, trong thành phần nhân sự nồng cốt bao giờ cũng cần có các công chức. Sơn Nam nêu ra lý do là dân chúng “tin rằng công chức luôn luôn đàng hoàng, không làm quốc sự.” Ngay cả trong chuyện kinh doanh, điều này vẫn đúng, cho nên số báo nói trên viết rằng trong thương mại “hễ có các ông nha môn ra làm đầu thì đâu đâu ai cũng xin vô hùn.” [15]
Tìm hiểu thời kỳ khai nguyên đạo Cao Đài nên lưu ý yếu tố tâm lý này. Trong số các vị môn đồ của buổi đầu khai sơn phá thạch, có đủ thành phần: nông dân, nhà tu xuất gia, cư sĩ, nghệ sĩ, nhà giáo, nhà buôn... và một con số không ít gồm các công chức. Các công chức này đã góp phần trong việc thu hút đông đảo dân chúng nhập môn đạo Cao Đài, nhất là khi tư cách của những vị ấy gây được uy tín với dân chúng địa phương.
V. TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ -XÃ HỘI
Nổi bật ở Nam Kỳ đầu thế kỷ XX là phong trào Minh tân do ông Gilbert Trần Chánh Chiếu và các đồng chí như Lương Khắc Ninh, Trương Duy Toản... lãnh đạo. Phong trào về sau bị thực dân Pháp đàn áp.
Trên tuần báo Lục Tỉnh tân văn, ông chủ bút Gilbert Chiếu thường gọi các đồng chí của mình là “vị Minh tân” hay “tay Minh tân” [16]. Ông Lê Văn Trung được Lục Tỉnh tân văn số 27, ngày 21-5-1908 giới thiệu là “người Minh tân”, và Sơn Nam ghi nhận ông Trung “về sau này là vị Quyền Giáo tông của Đại đạo Tam kỳ Phổ độ (đạo Cao Đài), một tôn giáo mới tổng hợp Đông Tây thâu hút đồng bào Minh tân lúc trước, khiến thực dân Pháp lo ngại.” [17]
Gilbert Trần Chánh Chiếu (ảnh tài liệu)
Ông Phạm Công Tắc suýt cũng bị Pháp bắt trong vụ thất bại của phong trào Minh tân. Lúc ấy, phong trào tổ chức đưa thanh niên ra nước ngoài học (Đông du), ba chuyến đầu trót lọt. Ông Tắc được bố trí đi chuyến thứ tư. Lần này bị lộ, Pháp ập đến trụ sở Minh tân Công nghệ xã, nhờ ông Lương Khắc Ninh kịp thủ tiêu hồ sơ và chứng tích nên không ai bị bắt.
Do ít nhiều mối liên hệ giữa cá nhân hai ông Trung và Tắc với phong trào yêu nước Minh tân như vậy, nên sau này không tránh khỏi có một ít người ngộ nhận, lầm tưởng rằng Cao Đài là “dư âm”, là “hậu thân” [sic] của phong trào Minh tân.[18]
Đã đành có rất đông tín đồ buổi đầu khai Đạo cũng là những người yêu nước chống thực dân, như Phạm Văn Sơn đánh giá: “Ngày nay dù sao chúng ta cũng không thể phủ nhận lòng ái quốc chân thành của các nhà lãnh đạo Cao Đài ...” [19] nhưng yêu nước chỉ mới là một trong nhiều nội dung của giáo lý Cao Đài, và được đạo Cao Đài coi là một tiêu chuẩn luân lý của đạo làm người (thế đạo hay nhân đạo). Tuy vậy không thể đơn thuần chỉ xét cạnh khía này rồi cố ý đồng hóa đạo Cao Đài với các phong trào chính trị, không biết vô tư nhìn đạo Cao Đài như là một tín ngưỡng độc đáo và đặc thù của dân tộc Việt Nam.
Tình hình chính trị ở Nam Kỳ đầu thế kỷ XX vô cùng phức tạp, gay gắt. Có những biến cố lớn như sau:
- 1903: Phan Bội Châu vào tận Châu Đốc để tìm hiểu phong trào cách mạng ở đây.
- 1908: Pháp đàn áp phong trào Minh tân.
- 1913: Kỳ ngoại hầu Cường Để vào Nam Kỳ, lưu lại ba tháng. Phan Xích Long xưng là Hoàng đế, khởi nghĩa ở vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, rồi bị bắt giam ở khám Lớn.
- 1914: Thế chiến thứ Nhất bùng nổ ở châu Âu.
- 1915: Pháp bại trận. Phát xít Đức chiếm Paris. các phong trào yêu nước ở Việt Nam hy vọng có thể lợi dụng tình thế này để giành lại độc lập.
- 1916: Dân chúng đánh khám Lớn giải cứu Phan Xích Long, nhưng thất bại. Mười ba tỉnh của Nam Kỳ cực kỳ xáo trộn vì loạn lạc, Pháp khủng bố.
- 1920: Toàn quyền Maurice Long tổ chức lại Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ, tục gọi là Hội đồng Quản hạt (Conseil colonial). Đây là nơi tranh giành quyền lợi giữa các nhóm tư bản Hoa, Pháp và tư sản Nam Kỳ. Sự xâu xé ấy lan ra báo chí, chiếm chỗ trên các tờ báo như La tribune indigène (của Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phú Khai). L’Indochine (của luật sư Morin), La Voix libre (của Ganobsky), La Cloche fêlée (của Nguyễn An Ninh), L’Echo annamite (của Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long).
Bên cạnh đó, do nghề in phát triển, sách vở có nội dung cách mạng được lưu hành bí mật hay phổ biến công khai.[20]
Trong lúc giới trí thức Nam Kỳ gần như lạc vào trận đồ bát quái thì quần chúng bình dân thế nào?
Các thanh tra chính trị và hành chánh của thực dân báo động rằng các cuộc cầu cơ hỏi chuyện “quốc sự”, nói sấm tiên tri thời cuộc đang lan tràn khắp Lục Tỉnh. Có câu rằng:
Ngựa lồng quỷ mới nhăn răng,
Cha con dòng họ thầy tăng hết thời.
Người ta đoán đến một năm Ngọ nào đó “thằng Tây” sẽ thua, và tại một vùng sông nước linh thiêng nào đó sẽ xuất hiện vị cứu tinh của dân tộc Việt Nam:
Bảo giang thiên tử xuất,
Bất chiến tự nhiên thành,
Rồi đây mới biết thánh minh,
Mừng đời được lúc hiển vinh reo hò.
Người ta chờ, hy vọng sẽ thấy Minh vương:
Bao giờ Nam Việt thạnh thời,
Minh vương sửa trị ngôi Trời đặt an.
Có lẽ do đức tin đó, năm 1913, Phan Xích Long khi khởi nghĩa cho thêu trên lá cờ những chữ Nho bí hiểm: Bửu sơn Kỳ hương, và Thánh minh Vương phật.
Còn những người an phận, thích tìm nơi hoang vắng tu hành, chịu khổ hạnh đợi hội Long hoa, chờ Phật vương ra đời.
Không khí tín ngưỡng dân gian nhuộm khắp Lục Châu. Giới trí thức ở thành thị cũng không kém. Thanh tra Lalaurette, trong phúc trình “Le Caodaïsme” đã dẫn, báo cáo rằng những năm đầu thập niên 20, trong giới công tư chức Nam Kỳ nổi lên một phong trào tìm hiểu và thực hành thông công với thế giới siêu hình qua sách vở chữ Pháp do hội Thông thiên học truyền bá, với các tác giả như Allan Kardec, Flammarion, Blavatsky, Annie Besant, Olcott ... Một chủ quận hồi ấy cũng ghi nhận: “Une véritable vague de spiritisme sévissait en 1924-1925 dans toute la Cochinchine.” (Một làn sóng thông linh học lan tràn khắp Đông Dương những năm 1924-1925.)
Lalaurette cũng cho biết Pháp đã tìm đủ mọi cách để trấn áp, như áp dụng các hình phạt nặng, vận dụng điều 144 của Hình luật, Quyển 6, để sử giảo nạn nhân, hoặc truy nã theo Nghị định 22-4-1873 của Phó Đô đốc Dupré. Pháp còn cho người trà trộn vào các nơi đáng nghi để theo dõi, chỉ điểm, dựa theo những quy định về thu dụng nhân viên chìm, chế độ trả tiền cho kẻ điềm chỉ ... mà Chuẩn Đô đốc Lafont ban hành ngày 06-7-1878.
Trong tình hình như thế, việc cầu cơ vẫn xuất hiện khắp cả ba kỳ, mặc dù phải dè dặt, kín đáo; phải tổ chức lẻ tẻ, ít người tham dự. Ở Trung Kỳ, có nơi gọi đàn cầu tiên là thiện đàn.[21] Chính các đàn cơ ở khắp nơi như vậy đã có ít nhiều liên hệ với sự xuất thế của đạo Cao Đài .
VI. CƠ BÚT VÀ NHỮNG TIÊN TRI CAO ĐÀI XUẤT THẾ
1. Lời tiên tri qua cơ bút
Các đàn tiên tri quy tụ những người hầu đàn cơ gồm đủ mọi tầng lớp trong xã hội, do nhiều mục đích khác nhau. Có thể chia ra ba nhóm chính:
- Nhóm sĩ phu ưu thời mẫn thế, mượn đàn cơ để hỏi việc thiên cơ, hầu hết vận mệnh đất nước ra sao. Những đàn này thường lập rất kín đáo.
- Nhóm mặc khách tao nhân, mượn đàn cơ để xướng họa thi phú với thần tiên, di dưỡng tính tình. Những đàn này thường lập trong ít người đồng thanh khí.
- Nhóm bình dân, gồm những người cần xin thuốc chữa bịnh, cầu thọ ... Những đàn này phổ biến hơn cả, rất đa dạng. Qua sự linh ứng nhãn tiền, đông đảo dân chúng đã có đức tin nơi siêu hình. Những đàn này thường chỉ hoạt động trong một thời gian nhất định, tại một địa phương nào đó, rồi ngưng hẳn (bế đàn). Ở Nam Kỳ hồi đầu thế kỷ XX có một số đàn hữu danh thuộc loại này, như đàn Hiệp Minh (ở Cái Khế, tỉnh Cần Thơ), đàn Minh Thiện (ở Thủ Dầu Một), đàn Chợ Gạo (tỉnh Chợ Lớn)...
Trong số các đàn tiên tri sự xuất hiện của đạo Cao Đài, có thể dẫn lại ba trường hợp tiêu biểu như sau:
a. Đàn tại quận Cao Lãnh (1913)
Thứ sáu, ngày 03-01-1913 (26-11 Quý Sửu), tại quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc, một nhóm sĩ phu lập đàn tại nhà ông Lê Quang Hiển (nhạc phụ nhà báo Diệp Văn Kỳ), mục đích hỏi về thiên cơ, quốc sự. Chơn linh nhà Nho yêu nước Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân (1841 - 1875) giáng cơ ban cho bài thơ chữ Nho như sau:
Dung tất Cao Đài nhiệm khuất thân,
Tứ triêm đào lý nhứt môn xuân.
Canh tân bồi ức giang sơn cựu,
Trừ cựu thời thiêm tuế nguyệt tân.
Cửu thập thiều quang sơ bán lục,
Nhất luân minh nguyệt vị tam phân.
Thứa nhàn hạc giá không trung vụ,
Mục đỗ Cao Đài tráng chí thân.
Ngài lại ban cho bài thơ dịch:
Co duỗi Cao Đài khoẻ tấm thân,
Dạo xem đào lý đượm màu xuân.
Giang sơn chẳng khác ngàn năm cũ,
Ngày tháng chờ thay một chữ tân.
Chín chục thiều quang vừa nửa sáu,
Một vừng trăng rạng chửa ba phân.
Thừa nhàn cưỡi hạc không trung ruổi,
Chạm mắt Cao Đài khoẻ tấm thân.[22]
Hai chữ Cao Đài được nhắc tới bốn lần mà không ai hiểu ngụ ý gì. Gia đình ông Lê Quang Hiển sao lại hai bài thơ, cất lên trang thờ làm kỷ niệm. Cuối năm 1926 (Bính Dần), khi các ông Cao Quỳnh Cư, Cao Hoài Sang, Lê Bá Trang, Vương Quan Kỳ ... trong đợt phổ độ Lục Tỉnh đến tại quận Cao Lãnh bấy giờ mọi người mới nhớ lại bài thơ mười ba năm trước.
Lê Quang Hiển (ảnh tài liệu của Thiện Mộc Lan, Sa Đéc)
b. Đàn tại miễu Nổi (1923) và chùa Ngọc Hoàng (1923)
Miễu Nổi không biết có từ bao giờ, nằm trên một cồn nhỏ rộng khoảng một trăm thước vuông, ở giữa sông Bến Cát, là chi nhánh sông Bình Lợi, quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định cũ. Trong miễu thờ Tề thiên Đại thánh, Ngũ long Công chúa.[23]
Trong một đàn lập ở miễu Nổi đêm 17-6 Quý Hợi (thứ Hai 30-7-1923), một vị trong Bát tiên là Tào Quốc Cữu giáng cơ khuyến tu, có đoạn: “Chư nhu có phước có duyên nên mới gặp Đạo kỳ này là kỳ thứ ba. Thiệt chư nhu có đại căn mới gặp trước thiên hạ đó. Hữu duyên đắc ngộ Tam kỳ độ, tiên thánh đều lâm phàm mà độ kẻ nguyên nhân.” [24]
Cùng năm ấy còn có một đàn cơ tiên tri khác, vào đêm 22-7 Quý Hợi (Chủ nhật 02-9-1923):
Huê phát Tam kỳ Đạo dĩ khai,
Quang minh tứ hướng thướng tam tài.
Đại phước kim đơn thân đắc ngộ,
Đế quân giáng hạ, nhữ vô tai.[25]
Bài thơ quán thủ thành Huê Quang Đại đế, là vị giáng đàn. Câu một nói “Tam kỳ Đạo dĩ khai” (Đạo kỳ Ba đã mở rồi) ám chỉ việc ông Ngô Văn Chiêu đã học đạo với đức Cao Đài trước đó hai, ba năm (1920-1921). Câu hai nói “tứ hướng thướng tam tài” (bốn phương đều kéo cờ ba màu) tiên tri từ năm 1926 trở đi khắp nơi sẽ nhìn thấy cờ của đạo Cao Đài gồm ba màu Vàng, Xanh, Đỏ, tượng trưng cho Tam giáo (Phật, Lão, Nho). Câu ba nói tới “kim đơn” nhằm ngụ ý liên hệ tới phần nội giáo tâm truyền (tu thiền hay tịnh luyện) của đạo Cao Đài.
Đàn tiên tri nói trên tiếp nhận tại chùa Ngọc Hoàng. Chùa này nằm trên đường Phạm Đăng Hưng, vùng Đất Hộ (Đa Kao), lúc đầu tên gọi là Ngọc Hoàng điện, tạo tác trong hai năm 1905-1906. Vị giữ chùa đầu tiên là Lưu Minh, ăn chay trường, tu Minh sư.[26]
Chùa Ngọc Hoàng ở Đa Kao (ảnh tài liệu)
2. Lời tiên tri trong kinh điển Minh sư
Minh sư là một tông phái thờ Tam giáo, nhưng trọng về Lão, sử dụng cơ bút, tu đơn (tức thiền đạo Lão). Khởi thuỷ, môn phái này quy tụ các di thần nhà Minh (Trung Quốc), xuất hiện đầu đời Thanh (cuối thế kỷ XVII). Tổ thứ mười hai của Minh sư là ông Trần Thọ Khánh có qua Việt Nam năm Giáp Ngọ (1894), năm sau tạ thế ở Trung Quốc.[27] Đạo Minh sư lúc đầu nuôi chí “phản Thanh phục Minh” nhưng với thời gian đã thay đổi nhiều. Khi được truyền bá ở Việt Nam, Minh sư trở thành một môn phái tu hành thuần túy, rất có uy tín ở Trung Kỳ và Nam Kỳ. Chùa Minh sư được gọi là Phật đường. Rất nhiều Phật đường là căn cứ mật của nghĩa quân chống Pháp.
Trước khi đạo Cao Đài xuất thế, trong tín đồ thông chữ Hán của Minh sư thường truyền tụng hai câu mà quán thủ là Cao Đài:
Cao như bắc khuyết nhân chiêm ngưỡng,
Đài tại nam phương Đạo thống truyền.
Ở miền Tam Quan, tỉnh Bình Định, Trung Kỳ, có phái tu Minh sư của một nhà ái quốc là đạo sĩ Trần Cao Vân (1866-1916). Kinh nhật tụng của phái này có hai câu:
Con cầu Phật tổ Như lai,
Con cầu cho thấu Cao Đài Tiên ông .
Đợi đến khi Cao Đài truyền từ Nam ra Trung, tín đồ Minh sư mới nghiệm được lời tiên tri. Lối tu có cơ bút, thờ Tam giáo của Cao Đài lại phù hợp Minh sư nên các lão sư và đông đảo tín đồ đã mau lẹ nhập môn, trong sự hân hoan là từ đây người nước Nam đã có đạo của dân tộc Việt Nam.
Sự xuất hiện của đạo Cao Đài ở Việt Nam, khởi nguyên từ đất Nam Kỳ, đã diễn ra trong một thời kỳ lâu dài. Riêng về thời kỳ tiềm ẩn, nhằm chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết cho đạo Cao Đài ra đời, có thể ấn định mốc thời gian khởi từ năm Canh Thân (1920) là năm lần đầu tiên vị môn đồ đầu tiên của đức Cao Đài là ông Ngô Văn Chiêu được biết đến hồng danh Cao Đài trong một đàn cơ ở tỉnh Tân An. Khởi từ năm ấy, thời kỳ tiềm ẩn có thể coi như kết thúc vào cuối tháng 8 Bính Dần (tháng 9-1926), vì vào lúc đó, ông Lê Văn Trung đã cùng các đồng môn công bố tuyên ngôn chính thức về sự ra đời của đạo Cao Đài. Tuyên ngôn này thường được gọi đơn giản là Tờ khai Đạo.
Những sự việc trọng đại xảy ra trong khoảng sáu năm này sẽ được tuần tự trình bày theo diễn tiến thời gian, mà khởi đầu là sự kiện đức Cao Đài hoá độ ông Ngô Văn Chiêu làm môn đệ đầu tiên của đức Cao Đài.
LEÂ ANH DUÕNG
CHÚ THÍCH
[1] Sơn Nam, Miền Nam đầu thế kỷ XX: Thiên địa hội và cuộc Minh tân. Sài Gòn: Nxb Phù sa, 1971, tr. VII.
[2] Đại Nam nhất thống chí. Tập V. Phạm Trọng Điềm dịch. Đào Duy Anh hiệu đính. Huế: Nxb Thuận Hóa, 1992, 122, 133, 200, 201.
[3] Bulletin de la Société des Études Indochinoises (Nouvelle série, Tome XX). Sài Gòn: 1945, p. 16.
[4] Theo Bulletin de la Société des Études Indochinoises (Nouvelle série, Tome XX). Sài Gòn: 1945, p. 16-35; và theo Nguyễn Đình Đầu, “Địa bàn Thành phố qua các thời kỳ”, in trong Địa chí văn hóa Thành phố. 1988, tr. 485-486. Theo Đào Văn Hội, Lịch trình hành chánh Nam Phần. Sài Gòn: 1961, Chương IV, tham biện là inspection; viên chức trông coi inspection gọi là inspecteur hay résident. Về tên bang biện, xem Paulus Huỳnh Tịnh Của, Sách quan chế. Sài Gòn: Bản in Nhà nước, 1888, tr. 15.
[5] Sơn Nam, Miền Nam đầu thế kỷ XX: Thiên địa hội và cuộc Minh tân. 1971, tr. 99.
[6] Tỉnh thứ hai mươi hai là Tân Bình, gồm một phần tỉnh Gia Định và Chợ Lớn nhập lại, được lập từ ngày 11-5-1944.
[7] Để tham khảo, sau đây là một cách giải thích của Nguyễn Đình Đầu [“Thay lời giới thiệu”, in trong: Pierre Pegneaux de Béhaine (Bá Đa Lộc Bỉ Nhu), Tự vị An Nam La Tinh. Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên dịch và giới thiệu. Nxb Trẻ, 1999, tr: 5-6.]:
“Chúng ta có thể tóm tắt: địa danh COCINCINA chia ra làm hai phần COCIN và CINA. Cocin nguyên trước là Co Ci, do phiên âm hai tiếng Giao Chỉ mà thành (vì thế Tự vị An Nam La Tinh mới dịch Người Giao Chỉ là Cocincinenses). Còn Cina thì bởi âm Sin hay Ts’inn và người mình đọc là Tần mà ra. Bên Ấn Độ có một thành phố tên COCHIN, sợ lẫn với Cochi hay Cochin, nên phải ghi rõ “Giao Chỉ (gần) Tần” và chữ La Tinh ghi thành COCINCINA (mà người Nhật hay Trung Hoa ghi ra Giao Chỉ Chi Na). Trên các bản đồ Tây phương vẽ Đông Nam Á, từ trước cho tới thế kỷ XVII, đều ghi trên địa phận nước ta tên COCINCINA, CAUCHINCHINA, COCHINCHINA, COCHINCHINE hoặc dạng tự nào đại khái như thế để nói lên đó là xứ GIAO CHỈ GẦN NƯỚC TẦN. Do đó, ta có thể đoán địa danh ấy đã xuất hiện từ khi nước ta gọi là quận Giao Chỉ bị nhà Tần đô hộ.
“Từ đầu thế kỷ XVII, hai họ Trịnh-Nguyễn tranh giành quyền lực, phân chia nước ta thành hai vùng cai trị Đàng Trong và Đàng Ngoài, lấy sông Gianh làm ranh giới phân ly. Trên bản đồ cũng như trong văn kiện, người Tây phương gọi Đàng Ngoài là TUNQUYN (hoặc nhiều dạng tương tự như TUMQUYN, TUNKIN, TONGKING, TONKIN...) tức lấy tên thủ đô ĐÔNG KINH để gọi bao quát cả Đàng Ngoài. Còn Đàng Trong thì họ vẫn dùng tên cũ COCINCINA mà gọi. Đàng Trong dưới thời Đắc Lộ (Từ điển Việt-Bồ-La) rộng từ sông Gianh tới núi Đá Bia ở dinh Phú Yên. Trên một thế kỷ sau – thời của Bỉ Nhu với Tự vị An Nam La Tinh –, địa danh COCINCINA lại chỉ thêm phần đất phương nam rất rộng lớn. Phần Nam Bộ xưa được mệnh danh là xứ Đồng Nai. Năm 1698, xứ Đồng Nai được thiết lập phủ huyện. Phủ GIA ĐỊNH tồn tại suốt từ đó đến năm 1800 và bao gồm toàn thể đất Nam Bộ. (...) Lại từ sau 1885, khi Pháp đã chiếm hết Việt Nam, Pháp chia cắt nước ta thành ba khúc và mệnh danh:
TONKIN là BẮC KỲ
ANNAM là TRUNG KỲ
COCHINCHINE là NAM KỲ
“Cả ba địa danh Đông Kinh, An Nam, Giao Chỉ (gần) Tần đã bị Tây ngữ hóa và đặt tên cho những phần đất chẳng ăn nhằm gì với ý nghĩa của nguyên ngữ.”
LAD nói thêm: COCHIN mà Nguyễn Đình Đầu nói tới là một cảng trên bờ biển Malabar ở tây nam Ấn Độ, là nơi người phương Tây đặt chân lên nước Ấn trước tiên. Cảng bị thực dân Bồ Đào Nha chiếm từ năm 1502.
[8] Sơn Nam, Miền Nam đầu thế kỷ XX: Thiên địa hội và cuộc Minh tân. 1971, tr. XII.
Sơn Nam, Bến Nghé xưa. Nxb Văn nghệ, 1981, tr. 150-151.
[9] Sơn Nam, Đất Gia Định xưa. 1984, tr. 175.
[10] Sơn Nam, Miền Nam đầu thế kỷ XX: Thiên địa hội và cuộc Minh tân. 1971, tr. 45.
[11] Sơn Nam, Miền Nam đầu thế kỷ XX: Thiên địa hội và cuộc Minh tân. 1971, tr. VI.
[12] Sơn Nam, Đất Gia Định xưa, 1984, tr. 157.
[13] Sơn Nam, Bến Nghé xưa, 1981, tr. 140.
[14] Sơn Nam, Bến Nghé xưa, 1981, tr. 158.
[15] Sơn Nam, Miền Nam đầu thế kỷ XX: Thiên địa hội và cuộc Minh tân. 1971, tr. 135-146.
[16] Sơn Nam, Miền Nam đầu thế kỷ XX: Thiên địa hội và cuộc Minh tân. 1971, tr. 140.
[17] Sơn Nam, Miền Nam đầu thế kỷ XX: Thiên địa hội và cuộc Minh tân. 1971, tr. 148.
[18] Sơn Nam, Miền Nam đầu thế kỷ XX: Thiên địa hội và cuộc Minh tân. 1971, tr. 142.
[19] Phạm Văn Sơn, Chế độ Pháp thuộc ở Việt Nam. Sài Gòn: 1972, tr. 178.
[20] Phạm Văn Sơn, Chế độ Pháp thuộc ở Việt Nam. 1972, tr. 59-60.
[21] Cao Xuân Huy, “Lao tzu’s philosophy and Confucius scholars”, Vietnamese studies, No. 56. Hà Nội: 1979, p. 29.
[22] Huệ Lương, Đại đạo Tam kỳ Phổ độ (Cao Đài giáo) sơ giải. Sài Gòn: Nxb Thanh hương Tòng thơ, 1963, tr. 27.
[23] Huỳnh Minh, Gia Định xưa và nay. Sài Gòn: 1973, tr. 203.
[24] Nguyễn Trung Hậu, Đại đạo căn nguyên. Sài Gòn: 1957, tr. 9.
[25] Nguyễn Trung Hậu, Đại đạo căn nguyên. 1957, tr. 9.
[26] Vương Hồng Sển, Sài Gòn năm xưa. Sài Gòn: Nxb Khai trí, 1969, tr. 198.
[27] Sơn Nam, Cá tính của miền Nam. Sài Gòn: Nxb Đông phố, 1974, tr. 108.
*
HẾT CHƯƠNG I

LỊCH SỬ ĐẠO CAO ĐÀI THỜI KỲ TIỀM ẨN 1920-1926
LÊ ANH DŨNG
CHƯƠNG II
ĐỨC CAO ĐÀI HÓA ĐỘ ÔNG NGÔ VĂN CHIÊU
Năm 1920 (Canh Thân) là lúc đức Cao Đài khởi sự hóa độ các tông đồ,[1] lập nên hàng môn đệ tiền phong, khai sơn phá thạch, mở ra một mối đạo mới cho dân tộc Việt Nam. Thời kỳ hóa độ các tông đồ diễn ra trong khoảng sáu năm (1920-1926), gồm hai giai đoạn:
- Khởi từ năm 1920 (Canh Thân), đức Cao Đài hóa độ ông Ngô Văn Chiêu, xây dựng nền tảng vô vi (nội giáo tâm truyền).
- Khởi từ năm 1925 (Ất Sửu), đức Cao Đài hóa độ nhóm Cao-Phạm, tức là nhóm Phổ độ, xây dựng nền tảng phổ độ hay ngoại giáo công truyền. (Việc này được trình bày ở hai chương III và IV.)
I. THÂN THẾ ÔNG NGÔ VĂN CHIÊU (1878-1932)
Môn đồ đầu tiên của đức Cao Đài là ông Ngô Văn Chiêu, thường được biết qua đạo hiệu Ngô Minh Chiêu.
1. Thời thơ ấu
Ông Chiêu là con duy nhất của một gia đình lao động thanh bạch. Thân phụ là ông Ngô Văn Xuân. Thân mẫu là bà Lâm Thị Quý (1858-1919), cũng gọi Lâm Thị Tiền, người quận Bình Tây, tỉnh Chợ Lớn. Song thân ông đều làm công cho một nhà máy xay lúa ở Bình Tây. Ông Chiêu chào đời tại quê mẹ, ngày 07-01 Mậu Dần (thứ Sáu 08-02-1878, nhưng trên giấy căn cước ghi ngày dương lịch là 28-02-1878, có thể do việc lập khai sinh muộn).
Ông chào đời trong một mái nhà nhỏ bé, chung quanh đầy sình lầy, nằm phía sau chùa Quan đế, tục gọi chùa Ông, cất năm 1873 (Quý Dậu), ở số 1, đường Chùa, sau đổi là số 242 đường Lê Quang Liêm, hiện nay là đình Bình An, số 242 đường Trần Văn Kiểu, phường 3, quận 6, Sài Gòn.
Chùa Ông (ảnh tài liệu)
Khi được sáu tuổi, vì song thân ra Hà Nội mưu sinh, ông Chiêu được đưa về làng Điều Hòa, tổng Thuận Trị, tỉnh Mỹ Tho, sống với bà Ngô Thị Đây, em độc nhất của thân phụ ông. Bà có chồng Hoa kiều, bán thuốc bắc và cây ván. Vì không con, hai ông bà sẵn lòng nuôi cháu, cho ăn học.
Năm mười hai tuổi, ông Chiêu gặp Đốc phủ sứ Lê Công Xũng (1853-1920), công chức Tòa bố tỉnh Mỹ Tho. Người này đã chỉ dẫn cách làm đơn và giới thiệu cho ông vào học nội trú Collège le Myre de Vilers. Trường này nguyên là Collège de Mỹ Tho thành lập ngày 17-01- 1879, đến ngày 14-6-1881 thì đổi tên thành Collège le Myre de Vilers, sau năm 1945 đổi tên thành trung học Nguyễn Đình Chiểu cho tới nay.[2]
Về sau, ông lên Sài Gòn, học tiếp ở Collège Chasseloup-Laubat. Trường này thành lập ngày 14-11-1874, năm 1928 đổi tên là Lycée Jean Jacques Rousseau, từ năm 1966 đổi tên là trường trung học Lê Quý Đôn cho tới nay.[3]
Năm hai mươi mốt tuổi, ông đậu bằng thành chung (diplôme d’études primaires supérieures), và từ đây bắt đầu quãng đời công chức.
Nghiên cứu tiểu sử của ông Chiêu, Giáo sư Ralph Bernard Smith có nhận xét khách quan rằng: “Ảnh hưởng văn hóa và tín ngưỡng Việt Nam tất yếu đã tác động đến đời sống của ông nhiều hơn là vốn Tây học.” [4]
Lời nhận xét vô tư này cũng đúng nếu nói về các vị môn đồ khác của đức Cao Đài. Dù các vị ấy lớn lên khi Nam Kỳ đã thành thuộc địa Pháp, học trường Tây, làm công chức thuộc địa, nhưng vẫn thực sự là con người Việt Nam. Đôi khi một số người vì thành kiến, vì tư ý, có lúc gán ghép cho các tiền bối khai đạo Cao Đài hai chữ “thân Pháp” (sic). Như thế, đã cố tình lờ đi những nghi kỵ, ngược đãi, bạo hành... mà thực dân Pháp từng bao phen bức bách đạo Cao Đài.
2. Đời công chức (1899-1931)
Quãng đời công chức của ông Chiêu có thể được tóm tắt qua niên biểu sau đây:
23-3-1899: Ông Chiêu làm thư ký tập sự (élève secrétaire) tại Sở Tân đáo (Service de l’Immigration) ở Sài Gòn, mức lương 200 đồng. (Tân đáo: mới đến. Sở Tân đáo là sở quản lý những người vừa nhập cảnh, ngày nay gọi là sở di trú, sở quản lý nhập cảnh.)
14-7-1901: Ông Chiêu thăng lên ngạch phó thư ký hạng ba (secrétaire auxiliaire de 3e classe) tại Sở Tân đáo, mức lương 250 đồng. Phó thư ký có ba hạng (bậc).
01-01-1903: Ông Chiêu sang làm việc ở Dinh Thống đốc Nam Kỳ. Bấy giờ Thống đốc Nam Kỳ là François Pierre Rodier. Khi ông Chiêu rời khỏi Dinh Thống đốc (tháng 4-1909) thì Quyền Thống đốc Nam Kỳ là Ernest Antoine Outrey.[5]
14-7-1904: Ông Chiêu thăng lên ngạch phó thư ký hạng nhì (secrétaire auxiliaire de 2e classe) tại Dinh Thống đốc Nam Kỳ, mức lương 300 đồng một năm.
14-7-1908: Ông Chiêu thăng lên ngạch phó thư ký hạng nhất (secrétaire auxiliaire de 1er classe) tại Dinh Thống đốc Nam Kỳ, mức lương 480 đồng.
01-5-1909: Ông Chiêu làm thư ký Tòa bố tỉnh Tân An. Có rước mẹ theo để phụng dưỡng.
14-7-1910: Ông Chiêu thăng lên ngạch chánh thư ký hạng ba (secrétaire titulaire de 3e classe) tại Tòa bố tỉnh Tân An, mức lương 540 đồng. Cũng như phó thư ký, ngạch chánh thư ký có ba hạng (bậc).
14-7-1910: Ông Chiêu thăng lên ngạch chánh thư ký hạng ba (secrétaire titulaire de 3e classe) tại Tòa bố tỉnh Tân An, mức lương 540 đồng.
01-01-1913: Ông Chiêu thăng lên ngạch chánh thư ký hạng nhì (secrétaire titulaire de 2e classe) tại Tòa bố tỉnh Tân An, mức lương 600 đồng.
01-01-1916: Ông Chiêu thăng lên ngạch chánh thư ký hạng nhất (secrétaire titulaire de 1er classe) tại Tòa bố tỉnh Tân An, mức lương 660 đồng. Như vậy, còn ba năm nữa thì lẽ ra ông sẽ thăng lên ngạch thư ký ngoại hạng hay thượng hạng (secrétaire surnuméraire), nhưng ông đã thi chuyển sang ngạch tri huyện. Tri huyện có hai hạng (bậc).
01-01-1917: Ông Chiêu thi đậu ngạch tri huyện hạng nhì (huyện de 2e classe), làm chủ quận Tân An.
Trong hồi ký, Vương Hồng Sển cho biết: “Những năm khoảng trước 1925, trường cao đẳng dạy luật và hành chánh ở Hà Nội (école supérieure de droit et d’administration) chưa đào tạo và cung cấp đủ người dùng, thì chức huyện cũng được tuyển chọn trong hàng thơ ký soái phủ [Dinh Thống đốc Nam Kỳ] lâu năm, nhưng bắt buộc những người này phải qua hai kỳ thi đổ lửa.” Đó là (a) examen de culture générale, khảo về học lực phổ thông; (b) concours professionnel, khảo về chuyên nghiệp và khả năng.[6]
15-11-1919: Thân mẫu ông Chiêu từ trần. (Không rõ thân phụ tạ thế ở đâu, lúc nào.)
01-3-1920: Mãn tuần bá nhật (một trăm ngày) của thân mẫu, ông Chiêu chuyển đi làm việc ở tỉnh Hà Tiên.
14-7-1920: Ông Chiêu thăng lên ngạch tri huyện hạng nhất (huyện de 1er classe), mức lương khoảng 1.222 đồng (số tiền đọc không rõ).
26-10-1920: Ông Chiêu đi làm chủ quận Phú Quốc.
01-01-1924: Ông Chiêu thăng lên ngạch tri phủ hạng nhì (phủ de 2e classe), mức lương 1.672 đồng. Cũng như tri huyện, ngạch tri phủ có hai hạng. Tri phủ thấp hơn ngạch đốc phủ sứ.
29-7-1924: Ông Chiêu rời quận Phú Quốc về Sài gòn. Ông trở lại làm việc ở Dinh Thống đốc, công tác ở Phòng Nhì (2e bureau).
Dinh Thống đốc có bốn phòng (tài liệu năm 1888). Riêng Phòng Nhì là cơ quan dân sự, có nhiệm vụ: “– Chuyên về công việc cầu đường, nhà cửa, cùng các sở coi việc. – Chịu giấy làm giá cả. – Giấy hiệp đồng, lãnh biện vật hạng cùng công việc làm. – Suy tính, làm giấy lãnh tiền về đồ dùng cùng công việc làm. – Các kho dự trữ, cấp phát vật hạng. – Đồ dùng xưa cùng đồ công nhu cho các phòng. – Việc đường sá. – Phân đường lộ, lấy mực cất nhà, mực đường. – Xét dọn bộ sổ vật hạng, cùng bộ sổ công việc làm.” [7]
Như vậy, ông Chiêu chỉ là công chức hành chánh (dân sự). Đừng ngộ nhận rằng phòng nhì là cơ quan mật vụ, gồm các “lính kín”, là một nơi chuyên bắt bớ, điều tra, tra tấn... của thực dân Pháp, tức là service de la sûreté mà thời xưa người Việt gọi là sở liêm phỏng hay sở liêm phóng. Thực ra, phòng nhì là cơ quan bên quân đội, chuyên báo cáo cho bộ chỉ huy biết tình hình và khả năng hoạt động của quân địch, chịu trách nhiệm về các hoạt động tình báo và chiến tranh tâm lý, thu nhặt tin tức tình báo, nghiên cứu các hoạt động của nghĩa binh và quân du kích, v.v...
Khi ông Chiêu trở lại Dinh Thống đốc thì bấy giờ Thống đốc Nam Kỳ là Auguste Tholance; đến khi ông Chiêu nghỉ việc, rời khỏi Dinh Thống đốc (tháng 12-1931) thì Eugène Henri Eutrope đang làm quyền thống đốc Nam Kỳ lần thứ hai trong lúc Thống đốc Jean Félix Krautheimer vắng mặt.[8]
01-7-1926: Ông Chiêu thăng lên ngạch tri phủ hạng nhất (phủ de 1er classe), mức lương 1.933 đồng. Cao hơn ngạch tri phủ là đốc phủ sứ, thường gọi tắt là đốc phủ.[9]
1931: Ông Chiêu nghỉ việc về tỉnh Cần Thơ dưỡng bịnh.
Các sách thường không ghi rõ vào ngày ông Chiêu nghỉ việc. Nhưng có thể xác định là không thể sớm hơn tháng 12-1931, bởi lẽ theo hồi ký của Vương Hồng Sển, để thi lên ngạch tri huyện, ông Sển đã thi kỳ concours professionnel ngày 01-12-1931, mà “chủ khảo là ông Estèbe, tham biện chủ tỉnh Tân An, (...) và giám thị kỳ thi viết là ông Đốc phủ Ngô Văn Chiêu”.[10]

Tri phủ Ngô Văn Chiêu (Huệ Nhẫn sưu tầm)
Dinh Thống đốc Nam Kỳ (ảnh tài liệu)
Dưới thời thuộc địa, tuy được người dân trong xã hội kính trọng gọi là “quan”, nhưng ông Chiêu chẳng lấy thế làm vinh. Vốn xuất thân từ chỗ hàn vi, ông sẵn có lòng lân tuất đối với kẻ nghèo khổ chung quanh, không lấy địa vị xã hội làm phương tiện vơ vét đồng bào. Để giữ đức thanh liêm, dưỡng lòng chánh trực, ông luôn khép mình vào nguyên tắc Nhứt hào vô phạm (không phải là tiền của mình thì dù chỉ một hào cũng không xâm phạm, chiếm đoạt). Cái mà đời gọi là “quan huyện, quan phủ”, ông coi như một nghề nghiệp, để mưu sinh qua ngày. Trong câu chuyện với bạn, có lần ông Chiêu nói: “la bolée de riz administrative” – chén cơm hành chánh.[11] Mấy lời tiếng Pháp vắn tắt ấy đã phản ánh phần nào thái độ của ông đối với nghề nghiệp, không hề bận lòng với mồi phú quý, bả vinh hoa, mặc dù ông thừa điều kiện và khả năng sẵn có để thụ hưởng miếng đỉnh chung.
Ông sớm chọn một nếp sống kín đáo, dè dặt, không để dính líu vào các vụ chính trị cũng như không để chính quyền thuộc địa lợi dụng mà đi ngược lại với lợi ích đồng bào đồng chủng. Làm thư ký ở Sài Gòn, đồng lương không đủ phụng dưỡng cha mẹ, nuôi thân và cả gia đình, ông phải dạy kèm tiếng Pháp cho người Hoa ban đêm; người bạn đời của ông lãnh nấu cơm tháng cho một số thư ký đồng sở với chồng.
Những năm làm chủ quận các nơi, ông chăm chỉ với công việc hành chánh, thường hay nâng đỡ người dân bần hàn cơ khổ, đặc biệt là các người nghèo, vì nghịch cảnh trái ngang nên phải vướng vòng tù tội. Do đó, ông càng được lòng dân địa phương thì chính quyền thuộc địa càng không hài lòng, càng để tâm ngờ vực. Đó cũng là lý do khiến cho Thanh tra Lalaurette trong phúc trình “Le Caodaïsme” đã không ngần ngại dùng nhiều lời thiếu nhã nhặn để chê tác phong làm việc của ông Chiêu, chỉ trích ông thiếu mẫn cán, không biết tận tụy với chính quyền thuộc địa ở Nam Kỳ. Việc liên tiếp thuyên chuyển ông đi những nơi xa xôi như Hà Tiên, Phú Quốc, có lẽ cũng là một kiểu biện pháp hành chánh để đối trị một công chức mà Pháp không hài lòng, vì không ép buộc được người công chức ấy trở thành cánh tay đắc lực của thực dân.
3. Gia cảnh
Khi đang làm thư ký ở Sài Gòn, ông Chiêu được Đốc phủ sứ Lê Công Xũng yêu mến, muốn chọn làm khách đông sàng, cho dù gia thế hai nhà chênh lệch quá nhiều. Theo lời khuyên của cô là bà Ngô Thị Đây, ông khéo léo từ tạ. Về sau ông kết hôn với một thiếu nữ mồ côi, tên là Bùi Thị Thân, buôn bán nhỏ tại chợ Mỹ Tho. Bà người làng Thạnh Trị (Mỹ Tho), sinh năm 1879, có tiếng đảm đang, đức hạnh. Những năm ông bị thuyên chuyển đi các nơi, bà thường xuyên sống xa chồng, thay chồng nuôi dạy con cái chu đáo.
Bà sinh nở chín lần. Hai người con gái đầu là Ngô Thị Ngữ (chào đời tại Mỹ Tho, được năm ngày thì mất), và Ngô Thị Hồng (sinh và mất tại Sài Gòn năm ba tuổi). Bảy người con kế tiếp đều sanh tại Tân An, lần lượt là hai gái: Ngô Thị Yến Ngọc, tức Lợi (sinh năm 1904), Ngô Thị Nguyệt (sinh ngày 27-5-1906); và năm trai: Ngô Văn Nhựt (sinh ngày 10-9-1908), Ngô Văn Tinh (sinh ngày 20-11-1910), Ngô Tường Vân (sinh ngày 01-9-1913), Ngô Thanh Phong (sinh ngày 15-11-1915), Ngô Khai Minh (sinh ngày 09-9-1920).
Ông tuy không giàu, đông con, nhưng được yên tâm tu hành, không bị cảnh thê thằng tử phược khảo đảo, dĩ nhiên nhờ có công lao giúp đỡ của bà, tuy thầm lặng, nhưng không phải là nhỏ. Bà tạ thế ngày 30-12-1955 tại Tân An.
Năm 1909 (Kỷ Dậu), đổi về tỉnh Tân An, ông mướn nhà ở bờ sông, gần chùa Quan thánh. Bấy giờ chỉ có thân mẫu về ở chung, ông Xuân ở tại Sài Gòn với thứ thất.[12] Sau này ông Chiêu mua lại một căn nhà lá ở Tân An, giá sáu mươi đồng, trên đất thuê, số 31 đường Lagrange, xã Bình Lập (ngày nay ở số 27 đường Phan Đình Phùng, Tân An). Lần hồi, Ông cho cất lại, lợp ngói.
Nhà 31 Lagrange, Tân An (ảnh tài liệu)
Nhà 27 Phan Đình Phùng, Tân An (ảnh Huệ Nhẫn)
Năm 1920 (Canh Thân) ông đổi đi Hà Tiên, rồi đi Phú Quốc, vợ con vẫn ở lại Tân An. Năm 1924 (Giáp Tý) trở về Sài Gòn, ông trọ tại Bá Huê lầu, đường Pellerin (nay là Pasteur). Ông nhiều lần thay đổi chỗ trọ, có lúc dời về đường Paul Bert (nay là Trần Quang Khải, Đa Kao), rồi về đường d’Espagne (nay là Lê Thánh Tôn), gần chợ Bến Thành, mướn nhà trên lầu một, phía dưới là một phòng răng. Năm 1928 (Mậu Thìn), nơi cuối cùng ông ở trong thời gian sống tại Sài Gòn là nhà số 110 đường Bonard (nay là Lê Lợi). Ông ở trên lầu hai, tầng trệt là tiệm tạp hóa của Hoa kiều (người Hải Nam). Năm 1931 (Tân Mùi), ông nghỉ việc, lui về tỉnh Cần Thơ, ở tại nhà ông Lý Trọng Quý, số 39, đường Nguyễn An Ninh. Năm sau ông Chiêu tạ thế, khoảng ba giờ chiều ngày thứ Hai 18-4- 1932 (13-3 Nhâm Thân), trong lúc đang trên chuyến phà Mỹ Thuận vượt sông Tiền.
Nhà 39 Nguyễn An Ninh, Cần Thơ (ảnh tài liệu)
Suốt mười hai năm cuối đời, ông thực sự sống ly gia cát ái, vì đây là giai đoạn đức Cao Đài dẫn đạo cho ông tu thiền. Tuy thế, ông vẫn lo tròn bổn phận với gia đình: hàng tháng trích lương chu cấp cho vợ con, lo dành dụm tiền sửa nhà cho vợ con có nơi an cư lạc nghiệp.
4. Đức độ
Làm chủ quận ông Chiêu thường cải dạng thường dân, đi vào các thôn xóm, chợ búa để tìm hiểu, quan sát cuộc sống người dân trong địa phận ông chịu trách nhiệm. Gặp ai khốn cùng, tai ương, ông kín đáo cứu giúp.
Có lần thăm chợ trưa 30 Tết, gặp người bán hoa ế ẩm, mặt héo dàu dàu, ông bỏ tiền mua cả bó lớn hoa, vừa xấu lại mắc. Con ông có ý phàn nàn, ông giải thích rằng muốn giúp họ chút tiền để kịp dọn về lo cúng rước ông bà.
Ông lang Phòng ở Tân An, là chỗ quen biết với ông Chiêu, có hôm buồn, ra mé sông câu cá trong lúc mưa đêm rả rích. Ông lang đội nón lá sùm sụp, che kín mặt, trời lại tối. Ông Chiêu đi qua, chẳng nhận ra người thầy thuốc quen, lại còn móc túi tặng đồng bạc, bảo mang về, sáng đi chợ, đừng dầm mưa lạnh lẽo.
Ông hay nhờ những người nghèo trong xóm đến làm giúp vài chuyện lặt vặt, rồi trả công hậu hĩ. Đó là cách giúp đỡ kẻ khác tế nhị, khéo léo che giấu sự trợ giúp của mình.
Xử kiện trong địa phương, ông rất thanh liêm, công bình. Ca dao Việt Nam có câu nói lên tệ nạn kiện cáo:
Con kiến mà kiện củ khoai,
Kiện đi kiện lại đã hai năm tròn.
Bây giờ kiến đã có con,
Củ khoai mọc mộng vẫn còn kiện nhau.
Ông Chiêu cũng thừa hiểu cái hại cho cả hai bên nguyên cáo và bị cáo nếu bị nha lại lợi dụng. Do đó, trong quyền hạn và cương vị của mình, ông thường khuyên giải và xử hòa các vụ lặt vặt. Những ai nghèo, cô thế, bị áp bức đều được ông giúp.
Tại Tân An, ông từng thân hành đến làng Thái Bình, tổng Mộc Hóa để điều tra vụ án hương chủ Hương ngộ sát thợ cày Vàng rồi toa rập với một cai tổng để chạy tội. Vụ án oan bị xếp lại qua hai đời chủ quận, nhờ ông công minh, hương chủ Hương phải nhận tội.
Một kẻ trộm bị tù, phải đi kéo quạt cho dinh quận (thuở ấy chưa có quạt điện). Y khóc lóc xin ông giúp đỡ, cho về nhà ba hôm lo ma chay bố. Động lòng thương kẻ hiếu, ông chịu bảo đảm cho y về. Mến đức, cảm ân, tội nhân đúng kỳ hạn đã trở lại nộp mình, không dám để ông phải lụy vì tội làm sổng tù.
Có lần trộm đang tìm cách lẻn vào nhà ông, lại bị lính tuần bắt. Sau khi ôn tồn mà nghiêm nghị giải thích điều hơn lẽ thiệt, khuyên y cải ác tùng thiện, ông cho tiền rồi tha về.
Đối với người ngoài, ông rất khoan thứ, nhưng với con lại rất nghiêm. Khi con ông còn bé, phàn nàn ông bố thí rộng rãi cho người dưng mà lại ít chịu cho con tiền túi ăn quà vặt. Ông ôn tồn giải thích: “Các con đã có cơm no, áo quần lành lặn, còn đòi hỏi gì nữa? Ba nuôi người bần khổ là để dành đức lại cho các con đó.”
Bản thân ông rất tiết kiệm. Ngày 12-10-1924, đang làm việc ở Sài Gòn, ông gởi thư về cho hai con gái (Ngô Thị Yến Ngọc và Ngô Thị Nguyệt), dặn con nhíp lại quần áo cũ của ông để ông mặc và ông cũng khuyên con: “Phải biết tiện tặng [tặn] mà ở đời cho khỏi tiếng xấu hổ. Áo vải mà no bụng khỏi bị ai kêu réo đòi nợ là tốt trong đời.” [13]
Thủ bút Ngô Văn Chiêu 12-10-1924 (Huệ Nhẫn sưu tầm)
Dạy con, ông thường nhắc câu “Quan nhất thời, dân vạn đại” (làm quan một lúc, làm dân muôn đời) hoặc là “Thuyền dời chớ bến không dời”, ngụ ý khuyên các con khiêm tốn, thương người, đừng ỷ thế con chủ quận rồi làm quấy.
Những nét phác họa về thân thế ông Ngô Văn Chiêu như trên cho thấy về phương diện đạo làm người, đối với gia đình, xã hội, đồng bào, ông đã là tấm gương trọn vẹn, trong sáng. Người công chức nhân hậu này đã chấp nhận cuộc sống bình dị, nhưng lại vươn lên khỏi chỗ tầm thường của thói tục. Với những đức tính như vậy, ông đã có sẵn mọi điều kiện thuận lợi để hướng vào cuộc sống tu hành, nhằm vào mục đích giải thoát cho kiếp người khỏi vòng luân hồi sanh tử. Nhưng bình sinh ông không chịu tu học với thầy phàm, do đó mãi đến năm bốn mươi ba tuổi (1921) ông mới thực sự bước vào đường đạo, được sự dìu dắt của đức Cao Đài. Mà con đường đưa ông đến với đạo Cao Đài cũng không phải tình cờ, đơn giản.
II. CON ĐƯỜNG ĐẾN VỚI CAO ĐÀI
1. Nhân duyên với các đàn tiên
Xu hướng tín ngưỡng của ông Ngô Văn Chiêu sớm bộc lộ từ buổi ấu thơ. Nhà dượng ông tại Mỹ Tho có lập trang thờ đức Quan thánh, do đó ông Chiêu quen dần với việc cúng kính và tụng kinh Minh thánh. Kinh này diễn sự tích Quan Vũ đời Tam Quốc, khuyến tu, do đức Quan thánh giáng cơ vào đời Thanh (Trung Quốc), khá phổ biến ở Nam Kỳ qua nhiều nhan đề và bản dịch khác nhau.[14]
Ngoài ra ông còn ăn chay mỗi tháng hai kỳ sóc vọng (mùng 1 và 15, theo âm lịch). Mãi đến năm 1920 (Canh Thân), lúc ở dảo Phú Quốc, vâng theo lời dạy của đức Cao Đài, ông mới thôi tụng kinh này, chuyển sang tu thiền.
Vốn đã có tín ngưỡng, ông Chiêu tin ở cơ bút và trước khi gặp đạo Cao Đài đã từng nhiều lần hầu đàn tiên do nhiều nhân duyên khác nhau.
Năm 1902 (Nhâm Dần), muốn cầu thọ cho thân mẫu, ông đến hầu đàn Minh thiện (tại Thanh an tự) ở tỉnh Thủ Dầu Một, và được một vị tiên ông ban cho một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, ẩn ý sâu xa.
Năm 1917 (Đinh Tỵ), ông hầu đàn Hiệp minh ở Cái Khế, tỉnh Cần Thơ. Mục đích là xin thuốc cho thân mẫu đang đau nhiều. Đến nơi thì đàn đã lập, đồng tử đang tiếp điển thiêng liêng. Ông không dám đường đột đi vào, sợ náo động, nên đứng chờ ở ngoài. nào ngờ tiên gia gõ cơ cho phép ông vào hầu, ban cho bài thuốc và hai bài thơ. Bài thơ thứ nhất dài mười câu lục bát:
Trời còn sông biển đều còn,
Khắp xem cõi dưới núi non đượm nhuần.
Thanh minh trong tiết vườn xuân,
Phụng chầu, hạc múa, gà rừng gáy reo.
Đường đi trên núi dưới đèo,
Lặng tìm cao thấp ải [phải?] trèo chông gai.
Phận làm con thảo há nài,
Biết phương tiên phật bồng lai mà tìm.
Xem qua xét lại cổ kim,
Một bầu trời đất thanh liêm chín mười.
Sau này, có lẽ tuân hành lời dạy của thiêng liêng, ông Chiêu nối tiếp thêm bốn câu nữa, để dùng làm lời khấn khi cầu cơ:
Vàng trau ngọc chuốt càng tươi,
Bền lòng theo phật cho người xét suy.
Thần tiên vốn chẳng xa chi,
Có lòng chiêm ngưỡng nhứt thì giáng linh
Năm 1919 (Kỷ Mùi), vì thân mẫu đau nhiều, ông cũng trở lại đàn Hiệp minh, nhưng chỉ được ban cho bài thơ (trường thiên) với nhiều câu ẩn áo. Tiên gia không cho thuốc. Ông lại lặn lội về đàn Minh thiện ở Thủ Dầu Một, được đức Quan thánh ban cho một bài thất ngôn tứ tuyệt. Cuối năm này thân mẫu ông tạ thế.
2. Nghe hồng danh Cao Đài lần thứ nhất (1920)
Trước khi chuyến đi tỉnh Hà Tiên, khoảng tháng 1 hay 2 năm 1920 (Kỷ Mùi), ông Chiêu thường lập đàn cầu cơ tại tỉnh Tân An cùng các ông Đoàn Văn Kim (1868-1946), hương bộ Lê Kiển Thọ (1868-1946), thầy giáo Nguyễn Văn Vân (1893-1981), nhà giáo kiêm soạn giả Trần Phong Sắc (1873-1928). Ông Sắc là một nhà nho hữu danh, hồi ấy đã được khách Lục châu biết tên qua các một số tuồng hát và nhiều bản dịch truyện Tàu như Đại Minh hồng võ (1907), Anh hùng náo tam môn giai (1907)...
Phận sự của các ông trong những buổi lập đàn tiên thường như sau:
- pháp đàn: Trần Phong Sắc (có nhiệm vụ họa phù tức là vẽ bùa để trấn đàn, ngăn cản tà quái xâm nhập đàn cơ; còn có trách nhiệm ký tên chứng thực giá trị của bổn điển sau cùng).
- đồng tử âm: Lê Kiển Thọ; đồng tử dương: Nguyễn Văn Vân (hai người cùng thủ cơ, bốn bàn tay giữ đại ngọc cơ, gọi là đồng tử âm dương hay song đồng).
- điển ký: Đoàn Văn Kim (ghi chép bổn điển tức là lời dạy qua phương tiện cơ bút và đồng tử; có khi cần hai, ba điển ký để sau khi xả đàn tức là dứt buổi cầu cơ, pháp đàn sẽ đối chiếu các bổn điển mà hiệu đính những sai sót).
- độc giả: Ngô Văn Chiêu (nhìn ngọn cơ viết chữ trên mặt bàn và đọc ra tiếng để cho điển ký ghi chép).
Trong một buổi lập đàn tại nhà ông Chiêu, khi đọc bài cầu cơ đến câu Ngũ chơn bửu khí lâm trần thế... thì cơ gõ mạnh xuống bàn, một đấng xưng danh là Cao Đài Tiên ông, bảo pháp đàn sửa lại câu văn nọ. Ông Sắc không chịu nghe. Tiên ông bảo ông Chiêu sửa; ông đổi lại là Bửu chơn ngũ khí lâm trần thế... Tiên ông gõ cơ khen.
Vì không rõ Cao Đài Tiên ông là đấng nào, các ông bạch, xin cho biết lai lịch. Tiên ông trả lời:
Cao Đài ứng hóa theo lòng chúng sanh,
Đố ai biết được cái danh Cao Đài.
Các bài cầu cơ thỉnh tiên lưu truyền trong dân gian thường có vài dị bản. Chẳng hạn, ngoài quyển Vạn pháp quy tông của đạo giáo Trung Quốc truyền sang Việt Nam, bài cầu cơ ở nhà ông Chiêu cũng có trong quyển Thần chú thỉnh tiên (Sài Gòn: nhà in Phát Toán, 1907, tr. 3-4), mà La Thành Đầm tự Mộ Tần (thơ ký nhà Đoan) gọi là Bài thỉnh tiên sơ thỉnh dài 46 câu, trong đó câu 9 in là Ngọc chơn bửu khí lâm trần thế.
3. Nghe hồng danh Cao Đài lần thứ hai (1920)
Xong tuần bá nhật (một trăm ngày) của thân mẫu, ngày thứ Hai 01-3-1920 (11-01 Canh thân) ông Chiêu đổi ra tỉnh Hà Tiên. Ông thường lên núi Thạch Động cầu tiên. Một vị tiên cô xưng danh Ngô Kim Liên ban cho ông hai vé thơ, ngụ ý khuyến tu:
Văng vẳng nhạn kêu bạn giữa thu,
Rằng trời cùng đất vẫn xa mù.
Non tây ngoảnh lại đường gai góc,
Gắng chí cho thành bực trượng phu.
Ngần ngần trăng tỏ giữa trời thu
Cái cảnh Tây phương vẫn mịt mù.
Mắt tục nào ai trông thấy đấy,
Lắm công trình mới đúng công phu.
Núi Thạch Động, Hà Tiên (ảnh tài liệu)
Đêm Trung thu năm Canh Thân (Chủ nhật 26-9-1920), ông Chiêu cùng các ông Cao Văn Sự, Nguyễn Thành Diêu lập đàn tại nhà ông Lâm Tấn Đức. Tiên ông ban cho bốn câu thơ vừa xưng danh vừa điểm danh như sau:
Cao Đài minh nguyệt Ngô Văn Chiêu,
Linh lung vạn hộc thể Quan, Diêu.
Vô thậm Sự, Đức nhiệm ngao du,
Bích thủy, thanh sơn tương đối tiếu.
Chưa biết Quan là ai. Diêu và Sự thì đã rõ. Riêng Lâm Tấn Đức (1866-1934, tự Hữu Lân, không con) là anh ruột của Lâm Tấn Thoại, và ông Thoại là cha của Đông Hồ Lâm Tấn Phác (1906-1969).
Lâm Tấn Đức (Huệ Nhẫn sưu tầm)
Nhà Lâm Tấn Đức (Huệ Nhẫn sưu tầm)
4. Thọ pháp (1921)
Thứ Ba 26-10-1920 (15-9 Canh Thân), ông Chiêu đổi ra Phú Quốc. Về hòn đảo này, Đông Hồ cho biết: “Ở Phú Quốc phần nhiều là còn giữ được cái phong tục, cái đức tính cổ thời, rõ là xã hội ‘gia vô bế hộ’. Nhà ở không bao giờ có làm cửa. Những nhà hào phú muốn làm cửa là cho tốt coi chớ ban đêm cũng vẫn không khóa. Cửa bỏ ngỏ mà không bao giờ có kẻ trộm.” [15]
Tại hòn đảo này, ông thường lập đàn cầu tiên núi Dương Đông. Đàn được lập ở một phật đường của đạo Minh sư, tục gọi là chùa Quan Âm, cách Dinh quận chừng 500 mét. Đông Hồ Lâm Tấn Phác tả chùa Quan Âm như sau: “Chùa cất trên tuyệt đỉnh, trước mặt thì có núi cao bình án, sau lưng thì có biển rộng hoành triều, rất được thế non nước. Tường đá rào tre quanh co, các thứ nhàn hoa cổ thụ, u ảo thanh tịnh vô cùng.” [16]
Chùa của Minh sư được gọi là phật đường. Do không hiểu, các báo cáo của mật thám, thanh tra Pháp thường gọi lầm là “đạo Phật đường”. Chùa Quan Âm vì thế cũng gọi Quan Âm Phật đường, thuộc tông Hoằng tế. Phải chăng do môi trường này ông Chiêu đã có dịp quen biết một chức sắc lớn của Minh sư là Thái lão sư Tùng Ngạc để tìm hiểu về phép tu đơn (thiền) theo bí truyền đạo Lão?
Cuối năm 1920 (Canh Thân), một tiên ông ẩn danh giáng đàn, dạy rằng nếu ông Chiêu thuận làm đệ tử thì tiên ông sẽ vui lòng truyền đạo. Tiên ông còn dặn hãy ngưng tụng kinh Minh thánh. Đến lúc ấy, ông Chiêu vẫn giữ lệ ăn chay mỗi tháng hai kỳ vào các ngày sóc, vọng. Cho nên, khi tiên ông dạy ông phải ăn thập trai (mỗi tháng ăn chay mười ngày) để đủ điều kiện thọ pháp tu thiền, thì ông lại e ngại việc đời ràng buộc, sẽ khó giữ tròn giới nguyện.
Mùng 1 Tết Tân Dậu (thứ Ba 08-02-1921), tại chùa Quan Âm, ông Chiêu chưa kịp bộc bạch điều gì thì tiên ông đã ra lịnh: “Chiêu, tam niên trường trai.” Thế là ông chỉ còn biết vâng lời, cầu xin tiên ông hộ trì.
Các tín đồ Cao Đài Chiếu minh, học theo phép tu thiền của ngài Ngô, đã chọn ngày mùng 1 Tết Tân Dậu làm một trong bốn ngày âm lịch kỷ niệm ngài Ngô Minh Chiêu:
- 01 tháng 01: kỷ niệm ngày trường trai thọ pháp.
- 07 tháng 01: kỷ niệm sinh nhật.
- 05 tháng 3: kỷ niệm ngày hiển đạo tại thế.
- 13 tháng 3: kỷ niệm ngày quy thiên.
Kể từ mùng 1 Tết năm ấy, ông Chiêu tu học thiền pháp với tiên ông ẩn danh. Tuy rằng trực tiếp học với vị sư phụ vô hình, nhưng trong bước đầu bỡ ngỡ, có những thắc mắc nho nhỏ mà chỉ cần người có kinh nghiệm tọa thiền nhiều năm là giúp giải quyết được dễ dàng, không cần mỗi sự việc đều phải lập đàn cơ thỉnh giáo. Ăn cơm có canh, tu hành có bạn. Như vậy, ông Chiêu chắc chắn đã có một vị thiện tri thức làm bạn đạo, để trợ duyên cho ông trong buổi đầu còn sơ cơ. Vị thiện tri thức đó vốn là một chức sắc cao trọng của phái Minh sư, một phái tu sở trường về thiền pháp.
Sự kiện này được Đại tiên Ngô Minh Chiêu trong một đàn cơ tại tu viện Minh đức (Vũng Tàu) nhắc lại vào thứ Năm 13-3-1980 (27-01 Canh Thân) như sau: “Buổi đầu Tiên huynh được Thượng đế chọn làm môn đệ đầu tiên. Đức Từ phụ tùy theo căn cơ và sự sống, tuổi tác của Tiên huynh mà cho người dẫn dắt một phương pháp công phu tu luyện, mặc dầu đã có từ ngàn xưa, nhưng nay cũng tạm đặt là Cao Đài tân pháp để làm đường giải thoát cho Tiên huynh, một đồ đệ đầu tiên của đức Thượng đế trong Tam kỳ Phổ độ.”
Hai năm sau, cũng tại tu viện Minh đức, thứ Sáu 23-7-1982 (03-6 Nhâm Tuất), Minh đức Đạo nhơn tiết lộ thêm về sự kiện này: “Vì Đạo vô vi, sư vô vi nên cũng cần có sự hộ trợ của hữu hình. Như ngày xưa, thuở ban sơ khai Đạo, đức Chí tôn cũng cần có Thái lão sư Tùng Ngạc truyền đạo cho Minh Chiêu Đại tiên khi còn tại thế.”
5. Thiên nhãn xuất hiện (20-4-1921)
Tiên ông ẩn danh dạy ông Chiêu không được tiết lộ pháp môn tu luyện, có lẽ vì thời cơ chưa đến. Ông cũng chưa biết một nghi thức nào để thờ đấng sư phụ vô vi. Một hôm, tiên ông dạy ông hãy nghĩ ra một biểu tượng nào đó cho mối đạo do tiên ông sáng lập. Ông Chiêu đề nghị chữ thập. Có lẽ điều này là kết quả của việc ông học đạo bấy lâu. Hệ từ thượng truyện của kinh Dịch có câu “Nhất âm nhất dương chi vị Đạo.” (Một âm một dương gọi là Đạo.) Tượng trưng Đạo là sự phối hiệp hòa hài lưỡng nghi (âm dương), các nhà đạo học dùng chữ thập, vạch ngang là âm, vạch đứng là dương. Khi đề nghị thờ chữ thập, phải chăng ông Chiêu muốn ám chỉ cái nguyên lý huyền diệu chi phối khắp cả vũ trụ càn khôn là Đạo?
Tuy nhiên, tiên ông dạy phải tìm một biểu tượng khác, bởi vì chữ thập gợi đến hình ảnh cây thánh giá của đạo Thiên Chúa. Ông Chiêu xin thời hạn một tuần, nhưng rồi cũng không thể nghĩ ra được ý gì.
Buổi sáng ngày 20-4-1921 (13-3 Tân Dậu), vào lúc tám giờ, ông Chiêu đang ngồi trên võng, phía sau Dinh quận Phú Quốc, nhìn ra biển khơi, chợt thấy trước mặt hiện rõ một con mắt thật lớn, linh động, hào quang chói lọi. Ông sợ, lấy tay che mắt. Hồi lâu, mở mắt ra nhìn, cảnh tượng vẫn còn. Ông chắp tay, khấn xin tiên ông cho con mắt ấy biến đi, nếu như tiên ông muốn ông thờ con mắt. Lạ thay, sau đó cảnh tượng mờ dần rồi mất hẳn. Mặc dù vậy, trong dạ ông hãy còn phân vân. Vài hôm sau, ông cũng mục kích lại một cảnh tượng y như vậy, và cũng chỉ sau khi khấn, hứa xin thờ con mắt thì con mắt nọ mới biến đi.
6. Nghe hồng danh Cao Đài lần thứ ba (tháng 4-1921)
Khoảng vài ngày sau khi Thiên nhãn xuất hiện lần thứ hai, ông Chiêu đến hầu đàn tại chùa Quan Âm, Tiên ông dạy hãy vẽ lại Thiên nhãn (con mắt trái) như đã mục kích để thờ. Dịp này, tiên ông còn xưng hồng danh là Cao Đài Tiên ông Đại bồ tát Ma ha tát, dạy ông Chiêu gọi đức Cao Đài bằng Thầy.
Vì ở Tân An và Hà Tiên đã hai lần được nghe hồng danh Cao Đài (1920), hơn nữa hai chữ Cao Đài vẫn thường được nhắc tới mỗi khi đọc bài chú thỉnh tiên cho nên có lẽ ông Chiêu không thấy bỡ ngỡ.
Đối với ít nhiều người ở Nam Kỳ thời xưa từng dùng sách Ấu học quỳnh lâm để học chữ Nho thì lại khá quen thuộc với ý nghĩa hai chữ Cao Đài. Đây là một quyển sách giáo khoa rất xưa, do Trình Đăng Cát đời Minh (1308–1644) soạn, rồi Trâu Thánh Mạch đời Thanh (1644–1911) viết thêm phần tăng bổ.
Quỳnh là một loại ngọc quý, màu đỏ. Quỳnh lâm là tên một cảnh vườn trong phủ Khai phong đời Tống (Trung Quốc). Vua Tống tổ chức tiệc thết đãi các tiến sĩ mới thi đậu ở vườn này. Vậy nhan đề sách này ngụ ý là: nhằm dạy cho trẻ con (ấu học), mong sau này các em sẽ thi đậu tới tiến sĩ (được dự tiệc ở vườn Quỳnh lâm).
Vào mùa thu năm 1912 tại Thượng Hải, Quảng ích thư cục đã phát hành Ấu học quỳnh lâm (khoảng 15x26cm). Đây là bản in đá của nhà sách Thiên bảo, và gồm bốn quyển. Quyển hai có mười hai chương; nơi chương Thân thể (trang 21) có câu tăng bổ: Cao đài viết đầu (…). Nghĩa là Đài Cao gọi là đầu (…). Lời chú giảng thêm cho câu ấy là: [Phật kinh] Đầu vi Cao Đài (…). Nghĩa là nói theo kinh Phật thì đầu là Đài Cao (…).
Sau này một số thánh giáo Cao Đài cũng dạy Cao Đài là đỉnh đầu (thuật ngữ đạo Lão thường gọi là Nê huờn cung, Côn lôn đảnh). Chẳng hạn:
Thử hỏi Cao Đài ở chốn nao?
Người tu trở lại trở về đâu?
Phải chăng tìm đến Cao Đài thượng?
Đài thượng vô vi tại đỉnh đầu.
[Đức Đông Phương Lão tổ]
“Chữ Cao Đài là gì? Là Côn lôn đảnh hay Nê huờn …”
[Đại thừa chơn giáo, Sài Gòn: 1956, tr. 56.]
7. Ý nghĩa của đàn tại chùa Quan Âm
Ông Chiêu được nghe danh Cao Đài Tiên ông Đại bồ tát Ma ha tát trong đàn cơ lập tại chùa Quan Âm. Như vậy đàn này có một ý nghĩa rất lớn, vì đã xác lập những cơ cấu căn bản tối thiết của một tôn giáo. Nói cách khác, do đàn này, có thể khẳng định rằng đạo Cao Đài dù còn tiềm ẩn đã sớm hình thành từ năm 1921, với các yếu tố ban đầu như sau:
- Giáo chủ (vô vi): đức Ngọc Hoàng Thượng đế, tá danh Cao Đài Tiên ông Đại bồ tát Ma ha tát.
- Giáo đồ đầu tiên: ông Ngô Văn Chiêu.
- Giáo pháp: Phần nội giáo tâm truyền (hay hình nhi thượng học), tức là pháp môn tu đơn (tọa thiền), cũng được gọi là tân pháp Cao Đài.
- Giáo tượng (thánh tượng): Thiên nhãn.
- Giáo thuyết: hồng danh Cao Đài Tiên ông Đại bồ tát Ma ha tát thể hiện đường lối dung hợp Tam giáo với Cao Đài biểu thị Nho, Tiên ông biểu thị Lão, Đại bồ tát Ma ha tát biểu thị Phật.
- Giáo điển: Một số bài kinh dùng khi cúng trưóc Thiên bàn vào các thời Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu đã có như bài “Đại la Thiên đế, Thái cực Thánh hoàng...” và ba bài dâng tam bửu:
Dâng hoa
Hoa tươi năm sắc sắc thiên nhiên,
Đầu cúi xin dâng lễ kỉnh thiềng [kính thành].
Cảm đức Cao Đài lòng đoái tưởng,
Từ bi cứu thế giáng đàn tiên.
Dâng rượu trắng
Tửu vị hương hề tửu vị huơng,
Khấu đầu cung hiến chước hồ trường.
Cao Đài hứng cảnh nhàn quan nhã,
Đệ tử cung trần mỹ vị hương.
Trường hợp cúng rượu nho (bồ đào tửu: wine, vin), hay rượu mía (cam giá tửu: rum, rhum) của phương Tây thì đổi bài trên bằng bài:
Bồ đào, cam giá tửu Tây phương,
Bả trản cung trần mỹ vị hương.
Đệ tử thành tâm kiềng phụng hiến,
Cao Đài hoan lạc kiết trinh tường
Dâng trà
Đông độ thanh trà mỹ vị huơng,
Khấu đầu cung hiến chước hồ trường,
Cao Đài hứng cảnh nhàn quan nhã,
Đệ tử cung trần mỹ vị hương.
Như vậy, nhiều sự kiện quan trọng của lịch sử khai đạo Cao Đài đã xảy ra tại chùa Quan Âm. Chùa này thoạt đầu do công tạo tác của các ông Huỳnh Đăng Khoa, Đỗ Minh Châu (tức Cả Bốn). Về sau, ông Châu truyền chùa lại cho con là Đỗ Kim Cự. Ông Cự lại truyền chùa cho ông Đỗ Văn Đồ (tức Tám Gia).
Người thừa tự này tính khí thất thường, có khi gây chuyện náo động làm cho buổi hầu đàn mất thanh tịnh, thiếu trang nghiêm. Vì vậy, sau hơn nửa năm lập đàn ở đây, ông Chiêu phải chuyển đến chùa Sùng hưng của hòa thượng Thích Ngộ Tiên (1885-1946), cách chùa Quan Âm khoảng 200 mét.
Sùng hưng tự, Phú Quốc (ảnh tài liệu)
Lần hồi, thiếu người chăm sóc, chùa Quan Âm suy sụp đổ nát. Năm 1961 (Tân Sửu), muốn giữ lại một di tích có liên quan ít nhiều đến thời kỳ khai nguyên nền Đạo, các tín đồ Cao Đài Chiếu minh đã dựng trên nền cũ của chùa Quan Âm một mái chùa mới, tức là Cao Đài Hội thánh. Gần đó là một am nhỏ, kỷ niệm chùa Quan Âm.
Cao Đài Hội thánh, Phú Quốc (ảnh tài liệu)
8. Ba năm tu học (1921-1924)
Trong thời gian ba năm học đạo với đức Cao Đài trên đảo Phú Quốc, ông Chiêu một lòng tinh tấn với tâm bất thối chuyển. Đức Cao Đài khuyến khích:
Ba năm lao khổ độ nhứt nhơn,
Mắt Thầy xem rõ lòng dạ chắc,
Thương vì con trẻ hãy còn thơ,
Gắng chí tầm phương biết đạo mầu.
“Thương vì con trẻ hãy còn thơ”, phải chăng là ám chỉ việc ông Chiêu đang luyện đơn? Đơn kinh đạo Lão có câu “Thập ngoạt hoài thai, tam niên nhũ bộ.” (Mười tháng mang thai, ba năm bú mớm.) Hoặc nói ẩn dụ là thánh thai, anh nhi, xích tử... Tất cả đều ám chỉ một giai đoạn tu luyện của hành giả trên đường thiền.
Giữa năm 1924 (Giáp Tý), ông Chiêu được chuyển về làm việc tại Sài Gòn. Đức Cao Đài ban cho ông một bài lục bát trường thiên dài hai mươi câu, trong đó có những lời khen:
Ba năm lòng sáng như son,
Trèo non xuống biển vuông tròn công phu.
Hay là:
Giờ này Thầy điểm thâm công,
Ngày sau con sẽ cỡi rồng về nguyên.
Lời tiên tri “cỡi rồng về nguyên” sau này sẽ ứng nghiệm, khi ông Chiêu liễu đạo trên một nhánh sông Cửu Long lúc đang trên phà Mỹ Thuận vượt sông Tiền (18-4-1932).
Rời đảo Phú Quốc ngày thứ Ba 29-7-1924 (28-6 Giáp Tý), ông Chiêu về đến Sài Gòn ngày hôm sau.
Gia đình ông vẫn còn ở Tân An, ông mướn nhà ở, và đổi chỗ luôn (như đã thuật ở trên). Ông sống kín đáo như một ẩn sĩ giữa chốn phồn hoa: tan sở lại về nhà trọ đóng cửa tu luyện âm thầm. Thời cơ chưa đến, cơ Đạo chưa thể trổ mặt, và đức Cao Đài chưa cho phép ông truyền bá tân pháp (thiền Cao Đài). Còn phải đợi đến cuối năm 1925 (Ất Sửu), bởi vì từ giữa năm này trở đi, Đức Cao Đài lại vận chuyển cho một nhóm môn đồ khác, sẽ hiệp cùng ông Chiêu trên đường truyền giáo, trong cái thế nội ngoại bình hành là thiền, là nội giáo tâm truyền, hay hình nhi thượng học (esoterism) và phổ độ, là ngoại giáo công truyền, hay hình nhi hạ học (exoterism).
Sự hình thành của nhóm môn đồ này trải qua hai giai đoạn:
(a) Lúc đầu là sự quy tụ giữa những người thân cận của các ông Cao Quỳnh Cư và Phạm Công Tắc. Trong Chương III tạm gọi các vị này là nhóm Cao-Phạm.
(b) Một thời gian sau đó, nhóm Cao-Phạm phát triển rộng, chuẩn bị cho việc truyền đạo Cao Đài khắp mọi nơi. Trong Chương IV tạm gọi nhóm Cao-Phạm sau khi đã phát triển là nhóm Phổ độ.
Con đường hình thành từ nhóm Cao-Phạm đến nhóm Phổ độ đã diễn biến với nhiều thi vị thanh tao và nhiều huyền diệu nhiệm mầu.
LÊ ANH DŨNG
CHÚ THÍCH
[1] Tông đồ: Tín đồ tích cực truyền bá một tín ngưỡng tôn giáo. [Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển tiếng Việt. Hà Nội: Trung tâm Từ điển Ngôn ngữ xb, 1992, tr. 994.]
[2] Collège de Mỹ Tho do Phó đô đốc, Thống đốc Nam Kỳ, Bá tước Louis Charles Georges Jules Lafont lập ngày 17-01-1879. Đến ngày 14-6-1881 thì Đại tướng, Quyền thống đốc Nam Kỳ Arthur de Trentinian đổi tên trường thành Collège le Myre de Vilers. [Theo: Dương Kinh Quốc, Việt Nam những sự kiện lịch sử 1858-1918. Hà Nội: Nxb Giáo dục, 1999, tr. 109.] Sau năm 1945 Collège le Myre de Vilers đổi tên thành trung học Nguyễn Đình Chiểu. [Theo: Nguyễn Q. Thắng, Khoa cử và giáo dục Việt Nam. Hà Nội: Nxb Văn hóa-Thông tin, 1994, tr. 269.]
Nói thêm: Charles Marie le Myre de Vilers là cựu tỉnh trưởng (préfet), cựu giám đốc dân sự vụ (directeur des affaires civiles) ở Algérie, được bổ làm thống đốc Nam Kỳ ngày 13-5-1879, nhậm chức từ ngày 07-7-1879 đến 11-01-1883, vắng mặt ở Sài Gòn từ 04-3-1881 đến 31-10-1881. [Theo: SHAOAB 1981, tức làCommission française du Guide des Sources des Sources de l’Histoire des Nations. Sources de l’Histoire de l’Asie et de l’Océanie dans les Archives et Bibliothèques françaises. Part I: Archives. (Ouvrage préparé avec l’aide et sous les auspices de l’Unesco.) München: K.G. Saur, 1981, pp. 538—539.]
[3] Ngày 10-7-1871 Pháp lập trường Ecole normale colonial (trường sư phạm thuộc địa); ngày 12-8-1871 Pháp lấy địa phận chùa Khải Tường để xây trường. Năm 1874 trường này đổi tên thành Collège indigène (trường bản xứ), có lẽ do một Nghị định ngày 14-11-1874 của Phó đô đốc, Thống đốc Nam Kỳ Jules François Emile Krantz; năm 1876 lại đổi tên thành Collège Chasseloup-Laubat, chia ra khu Âu (quartier européen) và khu học sinh bản xứ (quartier indigène). Ngày 15-7-1927 tách khu bản xứ nhập sang trường Collège de Cochinchine (trung học Nam kỳ). Năm 1928 Collège Chasseloup- Laubat đổi tên thành Lycée Chasseloup-Laubat, còn Collège de Cochinchine đổi tên thành Lycée Petrus Ký. [Nguyễn Đình Đầu, “Giáo dục dưới triều Nguyễn và dưới thời Pháp (1698-1955)”, trong Địa chí văn hóa thành phố, tập II: Văn học - Báo chí - Giáo dục. 1998, tr. 696, 730]. Năm 1966 Lycée Chasseloup- Laubat đổi tên thành trường trung học Lê Quý Đôn [Nguyễn Q. Thắng, Khoa cử và giáo dục Việt Nam. Hà Nội: Nxb Văn hóa-Thông tin, 1994, tr. 268.]
Nói thêm: Chasseloup-Laubat là Bộ trưởng Hải quân và Thuộc địa của triều đình Pháp, chủ trương chiếm Sài Gòn để làm căn cứ có lợi cho ảnh hưởng của quân viễn chinh Pháp ở Viễn Đông, và cũng đã tác động vua Napoléon III rất nhiều trong chính sách xâm lược, cướp Nam Kỳ làm thuộc địa. [Nguyễn Thế Anh, Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ. Sài Gòn: Trung tâm Sản xuất Học liệu Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên xb., 1974, tr. 14, 22, 25.]
[4] R.B. Smith, “An introduction to Caodaism”, BSOAS. University of London, Vol. XXXIII, Part 2, 1970, p. 338: “Vietnamese cultural and religious influence inevitably counted for much more in his life than his French education.”
[5] Khi ông Chiêu bắt đầu vào làm việc tại Dinh Thống đốc (01-01-1903) thì Thống đốc Nam Kỳ bấy giờ là François Pierre Rodier, (ngạch?) thống đốc các thuộc địa (gouverneur des colonies), được bổ nhiệm ngày 21-10-1902. Trong thời gian Rodier vắng mặt thì Olivier Charles Arthur de Lalande-Calan, thanh tra các sở dân sự (inspecteur des services civils), được bổ làm quyền thống đốc Nam Kỳ ngày 02-3-1906, nhậm chức từ ngày 10-3-1906 cho tới khi Rodier trở về Sài Gòn ngày 02-01-1907.
Ngày 29-6-1907, khâm sứ (résident supérieur) Louis Alphonse Bonhoure được bổ làm thống đốc Nam Kỳ, nhậm chức ngày 13-7-1907. Trong thời gian Bonhoure vắng mặt thì Ernest Antoine Outrey, thanh tra các sở dân sự, được bổ làm quyền thống đốc Nam Kỳ ngày 28-02-1908 và giữ chức cho tới Bonhoure trở về Sài Gòn ngày 24-9-1908.
Ngày 09-02-1909, Jules Maurice Gourbeil, (ngạch?) thống đốc các thuộc địa, được bổ làm thống đốc Nam Kỳ, nhậm chức ngày 16-6-1909. Trong thời gian J.M. Gourbeil vắng mặt (từ 09-02-1909 đến 15-6-1909) thì E.A. Outrey trở lại làm quyền thống đốc Nam Kỳ. [Theo: SHAOAB 1981, pp. 539-540.]
[6] Vương Hồng Sển, Hơn nửa đời hư. 1992, tr. 234.
[7] Paulus Của, Sách quan chế, 1888, tr. 13.
[8] Tháng 7-1924, ông Chiêu về Sài Gòn thì quyền thống đốc Nam Kỳ là Auguste Tholance, thanh tra chánh trị và hành chánh sự vụ (inspecteur des affaires politiques et administratives), nhậm chức từ ngày 31-5-1924 thay cho Thống đốc Maurice Cognacq vắng mặt cho tới ngày 17-12-1924.
Ngày 09-4-1926 Aristide Eugène le Fol, (ngạch ?) tham biện hạng nhất (administrateur de 1er classe), được bổ làm quyền thống đốc Nam Kỳ, nhậm chức ngày 19-4-1926.
Ngày 09-11-1926 Paul Marie Alexis Joseph Blanchard de la Brosse, (ngạch?) thống đốc các thuộc địa, được bổ làm thống đốc Nam Kỳ, nhậm chức ngày 30-12-1926.
Ngày 04-11-1928 Jean Félix Krautheimer, (ngạch?) thống đốc các thuộc địa, được bổ làm thống đốc Nam Kỳ, nhậm chức ngày 06-3-1929.
Ngày 05-01-1929 Eugène Henri Eutrope, ngạch tham biện hạng nhất, được bổ làm quyền thống đốc Nam Kỳ, nhậm chức từ ngày 12-01-1929 tới 06-3-1929 trong khi J.F. Krautheimer vắng mặt.
Cuối năm 1931 khi ông Chiêu rời khỏi Dinh Thống đốc thì E.H. Eutrope đang làm quyền thống đốc Nam Kỳ lần thứ hai trong lúc J.F. Krautheimer vắng mặt (từ 21-11-1931 đến 11-11-1932). [Theo SHAOAB 1981, p. 540.]
Nói thêm: Như vậy các sách sử Cao Đài hay chép Le Fol là “thống đốc” thì không đúng. Ông ta chỉ là quyền thống đốc, đảm nhiệm chức vụ trong khoảng hơn nửa năm trong lúc chờ một thống đốc chính thức từ Pháp bổ sang. Tuy nhiên, trong cách xưng hô (như trên Tờ khai Đạo ngày 07-10-1926), mọi người vẫn gọi ông là “Thống đốc” vì phép lịch sự.
[9] Về các ngạch thư ký, tri huyện, tri phủ và đốc phủ sứ, tôi căn cứ theo Paulus Của, Sách quan chế, 1888, tr. 15.
Về các kỳ thi thăng trật và mức lương của ông Chiêu, tôi tham khảo kết quả nghiên cứu điền dã của Huệ Nhẫn Võ Thành Châu (Cơ quan Phổ thông Giáo lý Đại đạo). Riêng mức lương ngạch tri huyện hạng nhì và hạng nhất thì không đọc nổi số liệu. Nhân đây tôi xin chân thành biết ơn nhà nghiên cứu sử Đạo Huệ Nhẫn đã cho phép tôi sử dụng một số hình ảnh sưu tầm và kết quả điền dã của ông.
[10] Vương Hồng Sển, Hơn nửa đời hư, 1992, tr. 240. Ở đây, có lẽ Vương Hồng Sển đã nhầm lẫn, vì ông Chiêu chỉ thăng tới ngạch tri phủ chứ không phải đốc phủ. Đốc phủ là nói tắt ngạch đốc phủ sứ, ngạch này cao hơn ngạch tri phủ.
[11] Đồng Tân, Lịch sử Cao Đài. Quyển I. Sài Gòn, 1967, tr. 129.
[12] Lịch sử quan Phủ Ngô Văn Chiêu. Sài Gòn: 1962, tr. 15.
[13] Theo tài liệu điền dã của Huệ Nhẫn Võ Thành Châu.
[14] Để biết rõ thêm về kinh Minh thánh, có thể đọc: Lê Anh Dũng, Quan thánh xưa và nay. Hà Nội: Nxb Văn hóa – Thông tin, 1995.
[15] Đông Hồ, “Thăm đảo Phú Quốc”, Nam phong tạp chí. Số 124, năm 1927, tr. 545.
[16] Đông Hồ, “Thăm đảo Phú Quốc”, tr. 545.
HẾT CHƯƠNG II

Thứ Ba, 12 tháng 8, 2008

Thứ Sáu, 8 tháng 8, 2008



Thứ Năm, 7 tháng 8, 2008


mien trung phong canh dep tuyet voi
ngam canh may troi voi nui song
ghe ve mien trung nhat nang hong
chay trong tim thuc mong xa xoi
goi doi vao canh troi non nuoc
mot chon hong tran hat men doi

Thứ Tư, 6 tháng 8, 2008

GỞI ĐỜI...!!!

Nhắn gởi hồng trần chốn xa xôi
Sống sao thác đặng chẳng đôi lời
Làm người chính nghĩa nệ chi đời
Oán trách nhau hoài cũng vậy thôi

Ta hiểu được ta ở chốn này
Làm điều ân đức đặng thảnh thơi
Đâu phải suốt ngày lo tụng niệm
Để đời sống thac mặc ai hay

An nhàn thọ hưởng ân thiện quả
Phủi tay nhắm mắt tựa mây qua
Gắn chi danh vọng rồi oan trái
Được mất bại thành sẽ bao xa

Cát bụi một đời rồi cát bụi
Giàu sang sao sống trọn giàu sang
Sung sướng u mê trong nhung lụa
Mấy chốc rồi tan bụi gió mây

Ta làm chẳng cần khen hay dở
Nhưng ta hiểu rõ chớ mộng mơ
Giúp sao cho vẹn tình nhân nghĩa
Thác xuống gởi hồn thú mây ngàn...........(thientam)